phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trƣờng trung học cơ sở. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trƣờng THCS Tứ Hiệp, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trƣờng THCS Tứ Hiệp, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1.
Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Từ thời cổ đại ở phƣơng Đông, Khổng Tử (551- 479-TCN ) là nhà triết học nổi tiếng của Trung Quốc, nhà đạo đức học khai sinh Nho giáo đã coi trọng vai trò của GDĐĐ và quan niệm có tính hệ thống về phƣơng pháp giáo dục đạo đức cũng nhƣ về tâm lý học. Nội dung và mục tiêu chủ yếu của GD đƣợc ghi trong Tứ thƣ và Ngũ Kinh. Nhƣng cụ thể và tập trung nhất trong các tác phẩm: “Dịch, Thi, Thƣ, Lễ, Nhạc, Xuân, Thu” rất xem trọng việc giáo dục đạo đức.
Ông xây dựng học thuyết “Nhân - Trí - Dũng”, trong đó “Nhân” là lòng thƣơng ngƣời, là yếu tố hạt nhân, là đạo đức cơ bản nhất của con ngƣời. [14] Nhà triết học phƣơng Tây là Socrates (470 - 399 - TCN) đã cho rằng đạo đức và sự hiểu biết quy định lẫn nhau. Có đƣợc đạo đức là nhờ ở sự hiểu biết, do vậy chỉ sau khi có hiểu biết mới trở thành có đạo đức. Chủ trƣơng đạo đức của Socrates là tri thức và đạo đức là một nghĩa, là muốn sống phải tri thức và chỉ cần có tri thức về nhận thức là sống nhân đức.
Komensky (1592 - 1670) là nhà giáo dục vĩ đại của Tiệp Khắc, ông luôn nhấn mạnh việc tôn trọng con ngƣời phải bắt đầu từ ý thức tôn trọng trẻ em, bởi trẻ em cũng nhƣ những cây non trong vƣờn ƣơm: “Để cây lớn một cách lành mạnh, nhất thiết phải đƣợc quan tâm, chăm sóc, tƣới bón, tỉa tót”. Ông kêu gọi các bậc cha, mẹ, các nhà giáo và tất cả những ai làm nghề nuôi dạy trẻ “Hãy mãi mãi là một tấm gƣơng trong đời sống, trong mọi sinh hoạt để trẻ em noi theo và bắt chƣớc mà vào đời một cách chân chính, …”. Các nghiên cứu ở trong nước Bác Hồ, vị cha già muôn vàn kính yêu của dân tộc đã luôn quan tâm đến việc rèn luyện nhân cách cho thế hệ trẻ, đặc biệt là lứa tuổi học sinh. Bác đã 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dạy: "Có tài mà không có đức là ngƣời vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó", khó chứ không phải là không làm đƣợc, cũng nghĩa là khác hẳn với vô dụng.
Qua đó mới thấy tài tuy quan trọng nhƣng đức còn cần thiết hơn bởi lẽ ngƣời có tài mà sống vị kỉ, chỉ biết dùng tài năng để phục vụ cho bản thân mình không thôi thì chẳng có ý nghĩa gì, thậm chí với lối sống và làm việc cá nhân nhƣ vậy có thể gây hại cho tập thể, cho xã hội. Tuy nhiên, coi trọng đức cũng không có nghĩa là xem nhẹ tài, theo Ngƣời giữa chúng không thể có mặt này mà thiếu mặt kia, đức và tài phải song hành cùng nhau, thống nhất hữu cơ với nhau mới giúp cho con ngƣời hoàn thiện nhân cách bản thân. Ngày nay, trong bối cảnh nền kinh tế nƣớc ta vận hành theo cơ chế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa, bên cạnh những truyền thống tốt đẹp của dân tộc đƣợc phát huy thì cũng nảy sinh không ít những vấn đề bức xúc về đạo đức cần phải nghiên cứu giải quyết. Đó là những suy nghĩ sai lầm nhƣ: chỉ cần có tài mà không cần có đức, làm kinh tế không cần đến đạo đức, khuyến khích lối sống thực dụng, đề cao giá trị vật chất.
Chính vì vậy, nhiều tác giả trong và ngoài nƣớc với cách nhìn từ nhiều góc độ khác nhau đã có những công trình nghiên cứu về giáo dục đạo đức nói chung cũng nhƣ giáo dục đạo đức cho học sinh nói riêng. Tác giả Phạm Khắc Chƣơng, Hà Nhật Thăng [25] đã đề cập đến các vấn đề giáo dục đạo đức nhằm giúp giáo viên có một cơ sở vững chắc để dạy cho học sinh. Các tác giả đã bàn nhiều về các vấn đề giáo dục đạo đức nhƣ phạm trù giáo dục trong đạo đức gia đình, đạo đức trong tình bạn, tình yêu,… từ đó các tác giả đƣa ra những nhận định và đề xuất một số phƣơng pháp giảng dạy về giáo dục đạo đức cho học sinh trong nhà trƣờng phổ thông. Khi nghiên cứu về vấn đề giáo dục đạo đức các tác giả đã đề cập đến mục tiêu, nội dung, phƣơng pháp giáo dục đạo đức và một số vấn đề về quản lý công tác giáo dục đạo đức hiện nay.
9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong cuốn “Về phát triển toàn diện con ngƣời thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [28] tác giả Phạm Minh Hạc cùng một số tác giả khác đã bàn về nguyên nhân dẫn đến thực trạng đạo đức học sinh hiện nay, đồng thời nêu lên những mục tiêu và đƣa ra những giải pháp giáo dục đạo đức cho con ngƣời Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc. Tác giả Đặng Quốc Bảo [9] đã khẳng định: “Các gia đình, các nhà trƣờng, các đoàn thể trong xã hội ta thời gian qua đã có rất nhiều cố gắng giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ, cho các thành viên. Tuy nhiên ta mới chú ý đến giáo dục đạo đức hƣớng ngoại, mà chƣa coi trọng đúng mức giáo dục hƣớng nội là giáo dục biết hổ thẹn, xấu hổ, lòng chân chính tự ái, tự trọng. Chiến lƣợc giáo dục của đất nƣớc ta trong thời kỳ mới, mục tiêu “Nhân cách - Nhân lực” của nền giáo dục nƣớc ta trong thời kỳ mới rất cần có sự nhấn mạnh chủ đề này trong các bài học về đạo làm ngƣời cho thế hệ trẻ”.
Một số luận văn thạc sĩ cũng đã nghiên cứu về vấn đề này, đó là: Luận văn thạc sĩ: “Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức học sinh ở trƣờng THPT Lý Thái Tổ, Cầu Giấy, Hà Nội” của tác giả Lê Thị Thanh Bình. Luận văn thạc sĩ: “Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức của học sinh trƣờng trung học phổ thông Tây Hồ, thành phố Hà Nội” của tác giả Lê Ngọc Tiến. Nhìn chung, các đề tài nghiên cứu đi sâu vào việc xác định các nội dung GDĐĐ, định hƣớng các giá trị đạo đức, các biện pháp GDĐĐ cho học sinh THPT. Tuy nhiên, hiện nay chƣa có đề tài nào nghiên cứu về những biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh THCS ở huyện Thanh Trì nói chung và học sinh trƣờng THCS Tứ Hiệp nói riêng.
Vì vậy, tác giả chọn đề tài “Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trƣờng trung học cơ sở Tứ Hiệp, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay” với hy vọng đây là sự kế thừa cần thiết các nghiên cứu đi trƣớc, góp phần nâng cao chất lƣợng GDĐĐ cho HS trƣờng THCS Tứ Hiệp, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý, quản lý nhà trường 1.
Quản lý Xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, cũng nhƣ từ những vấn đề đặc trƣng khác nhau, nhiều học giả trong và ngoài nƣớc đã đƣa ra những định nghĩa không giống nhau về quản lý. Đặc biệt, kể từ thế kỷ XXI, các quan niệm về quản lý lại càng phong phú.Taylor: "Quản lý là biết đƣợc chính xác điều bạn muốn ngƣời khác làm, và sau đó hiểu đƣợc rằng đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”.89] Theo Fayel: "Quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức (gia đình, doanh nghiệp, chính phủ) đều có, nó gồm 5 yếu tố tạo thành là: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát. Quản lý chính là thực hiện kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo điều chỉnh và kiểm soát ấy”.3-5] Theo tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc và tác giả Nguyễn Quốc Chí thì quản lý là “tác động có định hƣớng, có chủ đích của chủ thể quản lý (ngƣời quản lý) đến khách thể quản lý (ngƣời bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt đƣợc mục đích của tổ chức”.1] Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những ngƣời lao động nói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện mục tiêu đã dự kiến”.1] Lý luận và thực tế cho thấy quản lý không những là một môn khoa học mà nó còn là một nghệ thuật đòi hỏi sự vận dụng tinh tế, khôn khéo để đạt tới mục đích. Mục tiêu quản lý là định hƣớng toàn bộ hoạt động quản lý đồng thời là công cụ để đánh giá kết quả quản lý.
Nhƣ vậy, quản lý là hoạt động có ý thức của con ngƣời nhằm định hƣớng, tổ chức, sử dụng các nguồn lực và phối hợp hành động của một nhóm ngƣời hay một cộng đồng ngƣời để đạt đƣợc các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Với tất cả các quan điểm đã trình bày trên, trong luận văn này tác giả sử dụng khái niệm quản lý: Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra phù hợp với những quy luật vận hành của một tổ chức. Quản lý nhà trường Theo PGS Đặng Quốc Bảo: “Trƣờng học là một thiết chế xã hội trong đó diễn ra quá trình đào tạo giáo dục với sự hoạt động tƣơng tác của hai nhân tố thầy - trò. Trƣờng học là một bộ phận cộng đồng và trong guồng máy của hệ thống giáo dục quốc dân, nó là đơn vị cơ sở”.63] Nhà trƣờng là một thiết chế đặc biệt của xã hội, thực hiện chức năng kiến tạo các kinh nghiệm xã hội cho một nhóm dân cƣ nhất định của xã hội đó.