Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG THI ĐUA, KHEN THƯỞNG CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Khi đề ra học thuyết bất hủ của mình, Các Mác và Ăng ghen đã nghiên cứu mọi mặt đời sống và hoạt động của con người. Các ông xem xét hai khái niệm: Tinh thần tích cực lao động và Tinh thần chủ động sáng tạo của những người lao động, trong sự thống nhất biện chứng về hoạt động của con người. Trong bộ Tư bản, Tập 1, khi nghiên cứu quy luật phát triển của chủ nghĩa tư bản, Các Mác phân tích rõ nguyên nhân làm cho thi đua là tất yếu trong nền sản xuất hiện đại theo cơ chế thị trường.
Thi đua làm tăng năng suất lao động, Các Mác cho rằng, trong quản lý muốn cho sản xuất phát triển, cần biết “thúc đẩy tinh thần thi đua và kích thích sức sống của những người riêng rẽ”, làm cho họ “vứt bỏ được những giới hạn cá nhân” phát triển ý thức tập thể sẽ tạo ra được một động lực to lớn thúc đẩy sản xuất phát triển. Ăng ghen chủ trương phát triển xã hội mà trong đó bên cạnh các năng lực, thiên hướng cá nhân cũng giữ vai trò quan trọng. Người ta không dừng ở chỗ được phân công làm việc. “Như thế trong xã hội cộng đồng, sự thi đua sẽ được thúc đẩy, và chính ngay việc sản xuất cũng sẽ có hứng thú; cái lõi tham gia sản xuất, mà lại chỉ muốn coi việc sản xuất đó là một phương tiện để kiếm lời, sẽ không còn chi phối đến mọi quan hệ xã hội nữa” [28].
Trong những điều kiện lịch sử mới, Lê Nin đã phát triển tư tưởng của nhà sáng lập ra chủ nghĩa cộng sản khoa học. Lê Nin chỉ ra rằng thi đua có tính tự phát trong quá trình hợp tác lao động, có “sự tiếp xúc xã hội” của con người sẽ thay đổi về chất trong chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN). Ở đây thi đua có tổ chức vì sự tiến bộ của bản thân mỗi người tham gia thi đua và toàn xã hội. Tính tất yếu và mục đích tốt đẹp của thi đua trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, Lê Nin cho rằng chỉ có trong điều kiện xã hội 8 mới, tính tháo vát, tinh thần thi đua, óc sáng kiến của đông đảo quần chúng nhân dân mới được phát huy rộng rãi.
“Chủ nghĩa xã hội không những không dập tắt thi đua, mà trái lại, lần đầu tiên, đã tạo ra khả năng áp dụng thi đua một cách thật sự rộng rãi, với một quy mô thật sự to lớn,. Trong sơ thảo lần đầu tác phẩm: “Những nhiệm vụ trước mắt của chính quyền Xô viết”, Lê Nin khẳng định rõ: “Tổ chức thi đua phải chiếm một địa vị quan trọng trong số những nhiệm vụ kinh tế của chính quyền Xô viết” [20, tr. Các nhà kinh điển mới chỉ bàn đến thi đua trên lĩnh vực kinh tế trong xây dựng chủ nghĩa xã hội. Vận dụng sáng tạo những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về thi đua, thi đua XHCN vào hoàn cảnh nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nâng quan niệm về thi đua lên tầm tư tưởng, đường lối chính trị, coi thi đua là biểu hiện của lòng yêu nước của mỗi người Việt Nam.
Thi đua yêu nước là cốt cách, phẩm chất đạo đức của người Việt Nam yêu nước. Người đã khởi xướng việc tổ chức các phong trào thi đua trên các lĩnh vực đời sống xã hội ngay từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam giành được chính quyền sau cuộc Cách mạng Tháng Tám và bắt tay vào xây dựng chế độ xã hội mới. Trong giai đoạn từ năm 1945 - 1998, Nhà nước ta đã ban hành 1 quốc lệnh, 15 sắc lệnh, 6 quyết nghị, 5 pháp lệnh và nhiều nghị định, thông tư, chỉ thị để tổ chức thực hiện công tác thi đua, khen thưởng. Suốt chiều dài hơn 60 năm xây dựng đất nước công tác thi đua, khen thưởng đã bám sát được chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, kịp thời đề ra những phương pháp tổ chức thực hiện phù hợp với yêu cầu của từng giai đoạn cách mạng; đã khơi dậy và phát huy cao độ lòng yêu nước, ý chí quật cường, tinh thần hy sinh cao cả, chủ nghĩa Anh hùng cách mạng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Sau một thời gian dài công tác thi đua, khen thưởng “bị buông lỏng”[1], ngày 03/5/1998 Bộ Chính trị BCH Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị số 35-CT/TW về đổi mới công tác thi đua, khen thưởng trong giai đoạn mới. Tổng kết 5 năm thực hiện Chỉ thị 35-CT/TW, ngày 21/5/2004 Bộ Chính trị BCH Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị số 39-CT/TW về tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, phát hiện, bồi dưỡng, tổng kết và nhân rộng điển hình tiên tiến. Sau 10 năm thực hiện Chỉ thị số 9 39-CT/TW, ngày 07/4/2014 Bộ Chính trị BCH Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị số 34-CT/TW về tiếp tục đổi mới công tác thi đua, khen thưởng. Luật Thi đua, khen thưởng ra đời năm 2003, có hiệu lực thi hành ngày 01/7/2004 và được sửa đổi, bổ sung năm 2005, 2013 cùng các văn bản pháp quy của Nhà nước như Nghị định số 122/2005/NĐ-CP ngày 04/10/2005 của Chính phủ quy định tổ chức làm công tác thi đua, khen thưởng; Nghị định số 42/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng; Nghị định số 65/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng năm 2013,.
đã từng bước thực hiện đổi mới công tác thi đua, khen thưởng, đưa công tác này vào nề nếp đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Trên cơ sở những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua, khen thưởng mang tính lý luận, để phục vụ cho công tác chuyên môn, nghiệp vụ cũng như nhu cầu học tập nghiên cứu, trong những năm gần đây đã có một số đề tài nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến công tác thi đua, khen thưởng như: Luận văn Thạc sĩ của tác giả Dương Thị Thanh: “Đổi mới quản lý nhà nước về công tác thi đua, khen thưởng ở địa phương”, Hà Nội 2007; Luận văn Thạc sĩ của tác giả Hoàng Thu Huyền: “Biện pháp chỉ đạo công tác thi đua, khen thưởng ở Trường Đại học Sư phạm Hà Nội”, Hà Nội 2011; Đề tài khoa học cấp Bộ của tác giả Ngô Viết Sơn: “Đổi mới công tác thi đua, khen thưởng tại các cơ sở đào tạo bồi dưỡng cán bộ quản lý giáo dục”, Hà Nội 2009. Các đề tài nhìn chung đã đề cập đến các khía cạnh khác nhau của công tác thi đua, khen thưởng, đề xuất được những giải pháp để giải quyết một số vấn đề trong thực tiễn và có những đóng góp nhất định về mặt lý luận. Tuy nhiên, hầu hết các công trình nghiên cứu tập trung vào đổi mới công tác quản lý thi đua, khen thưởng ở địa phương; đổi mới công tác thi đua, khen thưởng ở các cơ sở đào tạo bồi dưỡng cán bộ quản lý giáo dục; biện pháp chỉ đạo công tác thi đua, khen thưởng ở một Trường Đại học., chưa có công trình nào nghiên cứu về quản lý công tác thi đua, khen thưởng công chức, viên chức ở các trường THPT.
10 Mặt khác, quản lý công tác thi đua, khen thưởng công chức, viên chức ở các trường THPT còn nhiều bất cập, thực hiện chưa tốt. Đây cũng là một trong những lý do phải khẩn trương thực hiện các biện pháp quản lý công tác thi đua, khen thưởng công chức, viên chức ở các trường THPT một cách có cơ sở khoa học, có tính khả thi, góp phần nâng cao chất lượng GDĐT đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới. Những vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động thi đua, khen thưởng công chức, viên chức ở các trường THPT 1. Khái niệm thi đua, khen thưởng công chức, viên chức ở trường THPT 1.
Thi đua, khen thưởng * Thi đua Trong bộ Tư bản, Tập 1, khi nghiên cứu quá trình hợp tác giữa con người và con người trong lao động sản xuất, thấy được hiện tượng diễn ra một cách khách quan trong quá trình hợp tác lao động, Các Mác đã đưa ra khái niệm về thi đua: Thi đua nảy nở trong quá trình hợp tác lao động, trong hoạt động chung và kế hoạch của con người. Sự tiếp xúc xã hội tạo nên thi đua và sự nâng cao theo lối đặc biệt nghị lực sinh động tăng thêm nghị lực cho riêng từng người [10, tr. Bàn về ngày thứ bảy lao động cộng sản, Lê Nin đã nói đến thi đua XHCN đó là phong trào lao động tự nguyện, góp sức giải quyết khó khăn, xây dựng xã hội mới của quần chúng lao động được giải phóng khỏi ách áp bức bóc lột. Lê Nin coi đây là một sáng kiến vĩ đại, chính quyền cách mạng cần chăm lo, tổng kết, phổ biến sáng kiến kinh nghiệm.
Phêđôxêép, nhà khoa học Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô trước đây cho rằng: Thi đua là sự đọ sức trong lao động và sáng tạo, mang đặc tính của con người trong xã hội, được sinh ra bởi sự hợp tác lao động và bởi mối quan hệ xã hội của con người trong quá trình sản xuất.; Thi đua XHCN là mối quan hệ xã hội mới có lịch sử. Nó mang tính sáng tạo xã hội của giai cấp công nhân,. Thi đua XHCN xuất hiện như là nhiệt tình cách mạng là hành động tự giác của quần chúng lao động - những người đã tổ chức sản xuất xã hội theo kiểu mới trong lao động, … Ngay từ khi Nhà nước ta mới ra đời Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chú trọng đến công tác thi đua, khen thưởng. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, thi đua tồn tại 11 khách quan trong xã hội.
Ngày 01/8/1949, nhân dịp tổng kết một năm thực hiện “Lời kêu gọi thi đua, ái quốc”, Người lại tiếp tục ra “Lời kêu gọi phát động thi đua ái quốc”, trong đó Người nhấn mạnh tính liên tục của thi đua “Tưởng lầm rằng thi đua chỉ nhất thời. Thật ra thi đua là phải trường kỳ”. Thi đua phải thiết thực, gắn với công việc hàng ngày của mỗi người, đem lại lợi ích cho cá nhân, cho cộng đồng và cho đất nước. Người nói: “Tưởng lầm rằng thi đua là một công việc khác với những công việc làm hàng ngày.