Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động tăng cƣờng tiếng Việt cho trẻ ngƣời dân tộc thiểu số ở trƣờng mẫu giáo. Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động tăng cƣờng tiếng Việt cho trẻ ngƣời dân tộc thiểu số ở các trƣờng mẫu giáo huyện Nam Giang tỉnh Quảng Nam. Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động tăng cƣờng tiếng Việt cho trẻ ngƣời dân tộc thiểu số ở các trƣờng mẫu giáo huyện Nam Giang tỉnh Quảng Nam. 4 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TĂNG CƯỜNG TIẾNG VIỆT CHO TRẺ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở TRƯỜNG MẪU GIÁO 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Ngôn ngữ nói chung và ngôn ngữ của mỗi dân tộc là tài sản quý báu của nhân loại. Nó tồn tại và phát triển đi lên cùng với xã hội loài ngƣời, nó luôn đồng hành và là phƣơng tiện giao tiếp của con ngƣời. Con ngƣời tạo ra ngôn ngữ và biến ngôn ngữ thành tài sản quý báu của văn minh nhân loại.
Ngôn ngữ là chìa khóa giúp cho nhiều công trình nghiên cứu đƣợc tỏa sáng. Không những vậy ngôn ngữ có sức hút mạnh mẽ, lôi cuốn sự tham gia nghiên cứu của rất nhiều nhà khoa học, từ những lĩnh vực khác nhau: Lịch sử, Triết học, Tâm lí học, Ngôn ngữ học, Giáo dục học…Vai trò phát triển ngôn ngữ cho trẻ từ lâu đƣợc các nhà khoa học ngoài nƣớc quan tâm nghiên cứu. Có thể kể đến các tác giả nhƣ: F.Saussure trong giáo trình "Ngôn ngữ học đại cƣơng" (1916) đã đƣa ra một số luận điểm quan trọng: Ngôn ngữ về cơ bản là một công cụ giao tiếp xã hội là một hệ thống kí hiệu chỉnh thể. Ngôn ngữ bao gồm những yếu tố có liên quan mật thiết với nhau, phụ thuộc vào nhau.
Giá trị của những yếu tố này đƣợc xác định bởi sự có mặt đồng thời của yếu tố khác trong cùng một hệ thống. Theo ông, ngôn ngữ là một bộ phận của hoạt động ngôn ngữ, là sản phẩm của xã hội, là kho tàng do hoạt động nói tích lũy lại trong mỗi ngƣời, tại các phần nhất định trong bộ não. Borodis với cuốn: Phƣơng pháp phát triển tiếng cho trẻ em (NXBGD Matxcơva – 1974). Xôkhin với tác phẩm: Phƣơng pháp phát triển lời nói trẻ em (Mátxcơva – 1979).Tikhêêva với tác phẩm: Phát triển ngôn ngữ trẻ em (Mátxcơva – 1997).Lomarep cũng có những cuốn sách có nội dung tƣơng tự về đề tài này.Tikhêêva đã đề ra phƣơng pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ một cách hệ thống, trong đó bà nhấn mạnh cần dựa trên cơ sở tổ chức cho trẻ tìm hiểu thế giới thiên nhiên xung quanh trẻ, dạo chơi, xem tranh, kể chuyện cho trẻ nghe… Bà đƣa ra các biện pháp cụ thể để phát triển ngôn ngữ nói cho trẻ mẫu giáo nhƣ: nói chuyện với các em, giao nhiệm vụ cho các em, đàm thoại, kể chuyện, đọc truyện, thƣ từ, học thuộc lòng thơ ca.
Những tƣ tƣởng này đến nay vẫn còn nguyên giá trị đối với việc giáo dục phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non.Bloomfiel - nhà ngôn ngữ học theo trƣờng phái ngôn ngữ học miêu tả của Mĩ trong cuốn "Language" (1993) quan niệm rằng: Mọi hành vi ngôn ngữ của con ngƣời đều tùy thuộc vào những chuỗi nguyên nhân - hậu qủa (kích thích - phản ứng). Vì vậy có 5 thể dựa vào nội dung của lời nói để đánh giá chủ thể tạo ra nó. Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ em đƣợc các nhà tâm lí- ngôn ngữ học nhìn nhận ở nhiều khía cạnh khác nhau.Vygôtxky (Mátxcơva 1979) quan niệm rằng bản chất sự phát triển ngôn ngữ nhằm mục đích giao tiếp và nhận thức, tất nhiên sự phát triển ngôn ngữ của trẻ không chỉ thuần túy dựa trên sự phát triển khả năng nhận thức của trẻ. Nhấn mạnh đến vai trò giao tiếp của ngôn ngữ, A.Leonchiep (Mátxcơva 1979) lại cho rằng sự phát triển ngôn ngữ của trẻ trƣớc hết là sự phát triển của các phƣơng thức giao tiếp.
Điển hình về những về sự phát triển ngôn ngữ của trẻ em phải kể đến nghiên cứu của giáo sƣ E.Chikhieva với tác phẩm “ Phát triển ngôn ngữ trẻ em dƣới tuổi đến trƣờng phổ thông”, của Xokhin với các tác phẩm “Phƣơng pháp phát triển lời nói trẻ em” (Mátxcơva 1979), M.Tsepsenko với “Đọc và kể chuyện văn học ở vƣờn trẻ”. Từ năm 1983, ở các trƣờng sƣ phạm mẫu giáo, do ảnh hƣởng của giáo dục học Liên Xô ngƣời ta đã sớm đƣa vào chƣơng trình đào tạo cô giáo mẫu giáo môn học Phát triển ngôn ngữ trẻ tuổi mầm non. Đây là môn học đƣợc nghiên cứu rất kỹ lƣỡng ở Liên Xô với nhiều nhà sƣ phạm nổi tiếng. Nhiều tác giả Nga có đóng góp quan trọng với việc hình thành chuyên ngành phát triển ngôn ngữ trẻ tuổi mầm non ở nƣớc ta, có thể kể đến các tác giả: Xôkhin với các tác phẩm “Phƣơng pháp phát triển lời nói trẻ em” (Mátxcơva, 1979) và “Những cơ sở tâm lý - giáo dục học của việc phát triển lời nói trẻ em” (Mátxcơva, 2002); Barodis A.M với cuốn “Phƣơng pháp phát triển tiếng cho trẻ em” (Mátxcơva, 1974); các tác giả Phedorenko L.K, cũng có những cuốn sách tƣơng tự.
Nhóm tác giả Shek-Kam Tse, Pik-Fong Tsui, Heiken To, Kam-Fong Wu, Victor Laing, Lu-Sai Lam (2009) với bài viết “Một cuộc điều tra về các cách hiệu quả để thu hút sự tham gia của các bậc cha mẹ là ngƣời dân tộc thiểu số để tăng cƣờng việc học tiếng Trung” của con em họ. Sự tham gia của phụ huynh đƣợc coi là rất quan trọng đối với sự thành công ở trƣờng học của trẻ em, do đó, điều quan trọng là phải tìm cách thu hút phụ huynh tham gia vào các hoạt động học tập của học sinh, đặc biệt là đối với những em có nền tảng văn hóa đa dạng. Bài báo này trình bày các khái niệm về sự tham gia của phụ huynh và sử dụng một trƣờng hợp làm gƣơng mẫu để nắm bắt các yếu tố tạo điều kiện để phụ huynh là ngƣời dân tộc thiểu số (DTTS) tham gia nhằm tăng cƣờng việc học tiếng Trung của con em mình trong bối cảnh Hồng Kông. Kết quả định tính cho thấy rằng các yếu tố thành công để thu hút cha mẹ DTTS bao gồm: có động cơ học tập cao, các yếu tố chƣơng trình tốt (nhƣ sử dụng các yếu tố học tập thú vị, nhạy cảm về văn hóa), thiết lập một môi trƣờng giống nhƣ ngôn ngữ đầu 6 tiên và đƣợc trao quyền.
Các định hƣớng tƣơng lai cho giáo dục và các lĩnh vực dịch vụ xã hội để thu hút các bậc cha mẹ DTTS cũng đƣợc thảo luận [28]. Năm 2011, Unesco phối hợp với Đại học Victoria (Úc) cho ra đời cuốn sách Tăng cƣờng học tập của trẻ từ các nền tảng ngôn ngữ đa dạng: giáo dục song ngữ hoặc đa ngôn ngữ dựa trên tiếng mẹ đẻ trong những năm đầu. Bài phê bình tài liệu này thảo luận về giáo dục song ngữ hoặc đa ngôn ngữ dựa trên tiếng mẹ đẻ cho trẻ em bắt đầu từ thời thơ ấu. Qua những nghiên cứu trên cho thấy, các quốc gia trên thế giới đều rất quan tâm, chú trọng đến hoạt động giáo dục ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo bằng nhiều phƣơng pháp khác nhau.
Dựa trên đặc điểm, tâm sinh lý của mỗi dân tộc sẽ có những những phƣơng pháp truyền dạy ngôn ngữ cho phù hợp cho trẻ mẫu giáo. Từ những nghiên cứu trên, đặt nền tảng so sánh, vận dụng trong luận văn của tác giả. Các nghiên cứu trong nước Phát triển ngôn ngữ cho trẻ tuổi mầm non là một bộ phận của chuyên ngành phƣơng pháp dạy học tiếng Việt. Lịch sử nghiên cứu lĩnh vực này đã đƣợc nhiều ngƣời quan tâm ở những khía cạnh khác nhau.
Từ những năm 70-80 thế kỷ XX cho đến nay các thành tựu nghiên cứu về tiếng Việt đã khá phong phú. Việc giảng dạy ngôn ngữ và tiếng Việt ở các trƣờng đại học, cao đẳng sƣ phạm và một số trƣờng đại học tổng hợp…đã đƣợc từng bƣớc nâng cao chất lƣợng. Từ năm 1980 đến nay, yêu cầu nâng cao chất lƣợng dạy học tiếng Việt ngày một đòi hỏi cao. Bắt đầu bằng các hội nghị, hội thảo về nâng cao chất lƣợng dạy học tiếng Việt, các bài đăng ở các báo, tạp chí,… (“Dạy nói cho trẻ trƣớc tuổi lớp 1” - Phan Thiều; “Dạy phát âm và làm giàu vốn từ cho trẻ mẫu giáo” - Tạ Thị Ngọc Thanh).
Những công trình này hƣớng đến trao đổi kinh nghiệm và mang tính vận dụng. Khoảng thời gian này, đã có những cuốn giáo trình đầu tiên về phát triển ngôn ngữ cho trẻ tuổi mầm non đƣợc sử dụng trong các trƣờng đào tạo GV mầm non: Tập thể tác giả Lƣơng Kim Nga, Phùng Ngọc Kiếm, Nguyễn Xuân Khoa với cuốn “Tiếng Việt, Văn học và phương pháp giáo dục” (1988) cũng đề cập đến các phƣơng pháp giáo dục tiếng Việt thích hợp để phù hợp với các lứa tuổi ở các cấp học khác nhau. Các tác giả Nguyễn Quang Ninh, Bùi Kim Tuyến, Lƣu Thị Lan, Nguyễn Thanh Hồng (1998) với: “Tiếng Việt và phương pháp phát triển lời nói cho trẻ”, đề cập tới tiếng Việt dựa vào đó tác giả xây dựng các phƣơng pháp nhằm phát triển và hoàn thiện lời nói cho trẻ. 7 Tập thể tác giả Cao Đức Tiến, Nguyễn Quang Ninh, Hồ Lam Hồng với giáo trình “Tiếng Việt và phương pháp phát triển lời nói cho trẻ em” (1993).
Nguyễn Xuân Khoa với tác phẩm “Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo” (1999). Ngày nay, ngày càng có nhiều ngƣời nghiên cứu về phát triển ngôn ngữ trẻ em. Bùi Kim Tuyến với đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ: “Xây dựng nội dung, biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo”(Mã số B98-4959). Một số luận văn, luận án về phát triển ngôn ngữ ở trƣờng mầm non đƣợc thực hiện.
Có thể kể đến luận án tiến sĩ của Lƣu Thị Lan (1996) “Những bước phát triển ngôn ngữ trẻ em 1 – 6 tuổi”, luận án đã chỉ rõ các bƣớc phát triển về ngữ âm của trẻ em Việt Nam bắt đầu từ giai đoạn tiền ngôn ngữ (0 – 1 tuổi), giai đoạn ngôn ngữ (1 – 6 tuổi), về mặt ngữ âm có những bƣớc tiến dài đặc biệt là giai đoạn 4 – 6 tuổi. Các bƣớc phát triển về ngữ pháp trong ngôn ngữ của trẻ em Việt Nam đƣợc tác giả nghiên cứu rất cụ thể từng lứa tuổi với các loại câu đơn, câu phức nhƣ câu phức chính phụ, câu phức đẳng lập. Theo tác giả để phát triển vốn từ cần tổ chức cho trẻ quan sát sự vật, hiện tƣợng và đàm thoại, cùng với trẻ phân tích sự vật, hiện tƣợng để giúp trẻ nhận thức mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tƣợng.