phần mở đầu, kết luận, Luận văn được chia làm 3 Chương: Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận và kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với hoạt động Bưu chính Viễn thông Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý nhà nước đối với hoạt động Bưu chính Viễn thông trong thời gian qua. Chƣơng 3: Một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước đối với hoạt động của ngành Bưu chính Viễn thông trong thời gian tới. 4 Chƣơng 1 MỘT SỐ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ KINH TẾ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CỦA NGÀNH BƢU CHÍNH VIỄN THÔNG VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 1.
Đặc điểm, vai trò của ngành Bƣu chính Viễn thông Việt Nam trong điều kiện hội nhập Kinh tế quốc tế 1. Đặc điểm của ngành Bưu chính Viễn thông Bưu chính Viễn thông là ngành kinh tế - kỹ thuật sử dụng cơ sở hạ tầng của nền kinh tế quốc dân, vừa kinh doanh vừa phục vụ mục đích an ninh, quốc phòng và làm nhiệm vụ chính trị của quốc gia. Sự phát triển của BCVT góp phần đáng kể thúc đẩy sự tăng trưởng nền kinh tế quốc dân và phát triển kinh tế xã hội. Trong sự nghiệp xây dựng và phát triển nền kinh tế, các ngành thuộc kết cấu hạ tầng nói chung và ngành BCVT thông nói riêng, cần phải phát triển đi trước một bước để tạo điều kiện, tiền đề cho phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước.
Theo thống kê hàng năm của vneconomy.vn trong những năm gần đây nhóm ngành dịch vụ đều có tốc độ tăng cao nhất trong 3 nhóm ngành (Nông lâm, thuỷ sản, Công nghiệp – xây dựng và Dịch vụ) và cao hơn tốc độ tăng chung (bình quân 2006- 2012 cả nước tăng 6,15%/năm, nhóm ngành nông, lâm nghiệp- thủy sản tăng 3,47%/năm, nhóm ngành công nghiệp- xây dựng tăng 6,33%/năm, còn dịch vụ tăng 7,27%/năm). Trong 6 tháng đầu năm 2013, nhóm ngành dịch vụ đã tăng 5,92%, cao nhất trong 3 nhóm ngành; tỷ trọng trong GDP đạt 43,12%, cao hơn năm trước đặc biệt tỉ trọng của ngành Viễn thông trong khối ngành dịch vụ bình quân là khoảng 41,4%. [10] Thông tin liên lạc được ví như một phương tiện của hệ thống thần kinh của quốc gia, giúp cho sự lãnh đạo, điều hành của Đảng, Quốc hội, Chính phủ 5 và chính quyền các cấp được thuận lợi và thông suốt từ trung ương đến địa phương. Nhờ hệ thống mạng lưới BCVT mà sự chỉ đạo lãnh đạo điều hành ấy được kịp thời và hiệu quả, tiết kiệm đáng kể chi phí cho xã hội.
Ngoài ra ngành BCVT còn góp phần tuyên truyền đường lối chủ chương chính sách của Đảng và nhà nước. Đối với bất kỳ quốc gia nào, việc bảo vệ an ninh, quốc phòng, trật tự và an toàn xã hội cũng cần phải sử dụng mạng lưới thông tin liên lạc để chỉ đạo, điều hành và do đó mà việc phối kết hợp giữa các lực lượng, kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế và bảo đảm an ninh, quốc phòng được vững chắc. Với đặc điểm của nước ta, thông tin liên lạc và mạng lưới BCVT của các doanh nghiệp là rất quan trọng trong công tác chỉ đạo điều hành của lãnh đạo các cấp và kết hợp phục vụ an ninh quốc phòng, đảm bảo trật tự an toàn xã hội. Trong công cuộc đổi mới kinh tế của đất nước, sự phát triển đi đôi với chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lý, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, phát huy khai thác các thế mạnh và hiệu quả tài nguyên, lực lượng lao động của các vùng, miền, điều này đòi hỏi Nhà nước phải phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội đi trước một bước.
Thực tế trong thời gian qua, ngành BCVT đã phát triển trước một bước, đáp ứng yêu cầu phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Bước vào thế kỷ 21, với xu hướng thực hiện hội nhập kinh tế quốc tế, phát triển kinh tế theo hướng nền kinh tế tri thức và với đặc điểm phát triển vũ bão về khoa học, sự hội tụ BCVT, công nghệ thông tin, truyền thông đang đặt ra vai trò và sự cần thiết phải phát triển mạnh mẽ ngành BCVT như là một chiến lược quan trọng. Ngoài các mục tiêu phát triển kinh tế -xã hội, trong những năm qua, Nhà nước đã thực hiện từng bước và đạt kết quả cao chương trình xoá đói giảm nghèo (ví dụ như chương trình 30A của Chính Phủ), cùng với nó là sự phát triển hạ tầng BCVT, phát triển và phổ cập dịch vụ BCVT đã đáp ứng yêu cầu và thúc đẩy nhanh việc thực hiện chương trình đó. Hiệu quả kinh tế - xã hội của ngành BCVT không chỉ thể hiện ở doanh 6 thu, lợi nhuận mà còn thể hiện ở lợi ích mà nó mang lại cho các ngành kinh tế khác, cũng như sự đóng góp của BCVT đối với sự phát triển kinh tế quốc dân, an ninh, quốc phòng và an sinh xã hội.
Ví dụ, theo các chuyên gia kinh tế thế giới, nếu mạng lưới và dịch vụ BCVT phát triển đáp ứng được yêu cầu, các cơ quan, đơn vị và cá nhân sẽ tiết kiệm chi phí đi lại, giao dịch, … chi phí này giảm đến khoảng 69,6 % do sử dụng tốt các phương tiện thông tin liên lạc và như vậy là tiết kiệm thời gian lao động xã hội. Ngày nay với xu hướng toàn cầu hoá trong thương mại, vai trò này là rất lớn. Đặc biệt với sự hội tụ giữa viễn thông và công nghệ thông tin, phát triển mạnh của dịch vụ Internet, hiệu quả xã hội do các ngành thuộc kết cấu hạ tầng cơ sở mang lại là rất lớn như: khám chữa bệnh từ xa, hội nghị từ xa, đào tạo từ xa, các thông tin kinh tế, đàm phán, xúc tiến thương mại, v.Sản phẩm cuối cùng của ngành BCVT là các sản phẩm có tính dịch vụ. - Sản phẩm BCVT là sản phẩm dịch vụ vì vậy khách hàng sẽ không nhìn thấy được, mà chỉ cảm nhận được, đó chính là kết quả của quá trình truyền tin từ người gửi đến người nhận.
Quá trình sản xuất và quá trình tiêu thụ sản phẩm gắn liền với nhau, không có sản phẩm tồn kho, đối với sản phẩm viễn thông kết thúc quá trình sử dụng của khách hàng là kết thúc quá trình sản xuất, đối với sản phẩm Bưu chính (trừ các sản phẩm lai ghép với Viễn thông) sản phẩm kết thúc quá trình sử dụng là khi Bưu điện, các doanh nghiệp chuyển phát hoàn thành chuyển phát sản phẩm đó tới người nhận. Với đặc điểm này yêu cầu đối với doanh nghiệp BCVT về quy trình sản xuất phải đồng bộ do tính chất mạng lưới rộng khắp, tiêu chuẩn chất lượng rất cao và chính điều này ảnh hưởng rất lớn và quyết định chất lượng sản phẩm. - Sản phẩm của ngành BCVT đa dạng và phong phú và gồm 3 nhóm chính: Bưu chính & Phát hành báo chí, Viễn thông và Công nghệ thông tin. Mỗi nhóm sản phẩm lại rất nhiều sản phẩm, Ví dụ nhóm sản phẩm Bưu chính bao gồm: thư (thư thường, thư ghi số, thư máy bay, chuyển phát nhanh), ấn phẩm, học phẩm của 7 người mù, chuyển tiền, Bưu kiện, v.v… mỗi loại sản phẩm phục vụ một nhu cầu khác nhau, có khả năng thay thế cho nhau, nhưng đồng thời phải tồn tại mà ngành phải tổ chức sản xuất kinh doanh và phục vụ.
Nhiều loại sản phẩm phải cung ứng mặc dù nhu cầu rất ít, đầu tư ban đầu cao và với kỹ thuật hiện đại - do điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. - Sản phẩm có những đặc điểm và thuộc tính của dịch vụ công cộng. Đặc điểm này đặt ra đối với công tác quản lý nhà nước ngành BCVT là phải đảm bảo có đủ các loại dịch vụ, phục vụ tất cả các đối tượng khách hàng trong xã hội, cần đặc biệt quan tâm và phải phục vụ các sản phẩm là nhu cầu thiết yếu của người dân, trên phạm vi toàn quốc, các sản phẩm mang tính kích cầu, thúc đẩy và là điều kiện tiền đề phát triển kinh tế - xã hội. Như vậy, một mặt Nhà nước phải có chiến lược phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật, mạng lưới, phát triển các dịch vụ mới, mặt khác phải đảm bảo các dịch vụ thiết yếu mà mọi người dân được sử dụng phù hợp với khả năng thanh toán của họ.
Trong đầu tư phát triển mạng lưới để kinh doanh và phục vụ, nhà nước phải có chính sách đảm bảo các điều kiện kinh doanh và phục vụ theo các tiêu chuẩn nhất định, đặc biệt là tại các vùng kinh doanh và phục vụ khó khăn mà ở đó người dân không có khả năng thanh toán hoặc khả năng thanh toán thấp. - Tải trọng sản phẩm dịch vụ không đồng đều, có sự thay đổi theo thời gian trong ngày, ngày trong tuần, tuần trong tháng và tháng trong năm, theo vùng, miền và nhu cầu phục vụ các nhiệm vụ đột xuất, thiên tai, an ninh, quốc phòng. Đặc điểm này rất quan trọng với công tác quản lý nhà nước, và đặc biệt là trong điều kiện ngành BCVT bước đầu mở cửa thị trường có sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp BCVT trong nước, trong điều kiện thực hiện hội nhập kinh tế quốc tế. Do vậy, Nhà nước phải quy định mức độ phạm vi, quy mô, kỹ thuật mạng lưới để đảm bảo chất lượng phục vụ của mỗi doanh nghiệp, sự phối hợp giữa các doanh nghiệp vì mục tiêu chung của quốc gia và người sử dụng.
Việc tính toán đầu tư, xây dựng mạng lưới đảm bảo các yêu cầu trên là nghĩa vụ và 8 trách nhiệm của các doanh nghiệp, nhưng nhà nước phải có quy định và thường xuyên kiểm tra, đánh giá để bảo đảm quyền lợi của người tiêu dùng, thực hiện các nhiệm vụ chính trị và quan trọng là đảm bảo hiệu quả kinh tế chung của toàn xã hội và nền kinh tế. Có sự liên kết, phối hợp và đồng bộ giữa các doanh nghiệp BCVT với nhau để tạo ra sản phẩm. - Để tạo ra và hoàn thành một sản phẩm BCVT thường phải có nhiều đơn vị trong cùng một doanh nghiệp hoặc hai doanh nghiệp trở lên tham gia quá trình sản xuất. Đặc điểm này phục thuộc vào tổ chức sản xuất kinh doanh của mỗi đơn vị và toàn ngành.
- Trường hợp một doanh nghiệp hoàn thành sản phẩm: đó là doanh nghiệp thực hiện hoàn chỉnh từ khâu nhận (của người gửi) đến khâu phát (cho người nhận). Ví dụ liên lạc giữa người gọi và người nhận cuộc gọi đều là thuê bao của doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ viễn thông.