phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị và tài liệu tham khảo, phục lục, nội dung chính của luận văn đƣợc cấu trúc gồm 3 chƣơng. Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ ở trƣờng tiểu học. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ ở các trƣờng tiểu học thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ ở các trƣờng tiểu học thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên.
5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA NỘI BỘ Ở TRƢỜNG TIỂU HỌC 1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài Ở một số nƣớc trên thế giới hoạt động kiểm tra nội bộ trƣờng học đƣợc gọi theo nhiều cách khác nhau và đƣợc nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau. Tuy nhiên, các nghiên cứu đều thống nhất rằng quy trình kiểm tra nội bộ trƣờng học đƣợc thực hiện hoàn toàn bởi nhân viên của nhà trƣờng, đƣợc thành lập thành một nhóm đánh giá chuyên biệt.
Những nhóm này thƣờng bao gồm các giáo viên và các thành viên thuộc Ban quản lý của nhà trƣờng. Các nghiên cứu về hoạt động kiểm tra trƣờng học của một số nƣớc cũng chỉ ra rằng: - Các thành viên chuyên trách trong nhóm đánh giá nội bộ của nhà trƣờng chịu trách nhiệm hoàn toàn về kết quả kiểm tra và quá trình kiểm tra ở trƣờng học. - Đánh giá nội bộ trƣờng học có tác động tích cực đến hoạt động của trƣờng học, gia tăng thành tích học tập của học sinh và nâng cao chất lƣợng giảng dạy của giáo viên, mặc dù những ảnh hƣởng tích cực này phụ thuộc nhiều vào điều kiện cơ chế quản lý. - Các nghiên cứu thực hiện tại Đan Mạch, Anh, Phần Lan, Xcốt-len và Thụy Điển chỉ ra rằng: Ở tất cả các nghiên cứu này đã cho thấy rằng, giáo viên tin là đánh giá, KTNB có tầm ảnh hƣởng sâu rộng đến quá trình giảng dạy của họ cũng nhƣ chất lƣợng học tập của học sinh và KTNB đem lại nhiều lợi ích hơn các biện pháp đánh giá từ bên ngoài.
Một số công trình và báo cáo nghiên cứu liên quan đến KTNB ở một số nƣớc nhƣ sau: Tại Hà Lan, trong nghiên cứu “Total Quality Management in Mauritian 6 education and principals’decíion-making for school improvement” tác giả Claude Ah-Teck, J.Tập trung nghiên cứu việc Hiệu trƣởng ở các trƣờng thuộc Mauritius sử dụng hệ thống dữ liệu quản lý chất lƣợng nội bộ trong việc đƣa ra quyết định cải thiện môi trƣờng giáo dục. Kết quả nghiên cứu của tác giả cũng cho thấy việc quản lý chất lƣợng hoạt động kiểm tra rất quan trọng và nó còn quan trọng hơn khi các Hiệu trƣởng sử dụng kết quả đó vào các quyết định của mình trong quá trình quản lý nhà trƣờng.[29] Hai tác giả ngƣời Anh là Hall, C. (2007), nghiên cứu về “Ảnh hƣởng của kiểm tra nội bộ trƣờng học đến quan điểm của giáo viên tại Anh về công tác giảng dạy của bản thân”. Tại nghiên cứu này, các tác giả phân tích về nhận thức của giáo viên và hiểu biết của họ về quy trình tự đánh giá chất lƣợng khi chính phủ Anh đƣa ra chính sách yêu cầu các trƣờng thực hiện công tác KTNB trƣờng học.
Đồng thời xem xét mối liên hệ giữa Thanh tra viên và giáo viên thuộc nhóm KTNB trƣờng học thay đổi thế nào kể từ khi chính sách có hiệu lực. Kết quả cho thấy giáo viên và Ban lãnh đạo trƣờng học hƣởng ứng và thực hiện tốt công tác KTNB trƣờng học, không những thế KTNB trƣờng học đƣợc giáo viên sử dụng nhƣ một công cụ, biện pháp trong việc nâng cao chất lƣợng giảng dạy của bản thân. [30] Tại Mỹ, các tác giả McNaughton, S. (2012) nghiên cứu “Kiểm tra tính hiệu quả của mô hình kiểm tra nội bộ trƣờng học” (School Effectiveness and School Improvement) tại 07 trƣờng đa văn hóa, đa sắc tộc.
Nghiên cứu nêu tính hiệu quả của mô hình KTNB trƣờng học phục vụ việc dạy và học của các trƣờng học thuộc cộng đồng bản địa. Theo đó nâng cao vai trò của Hiệu trƣởng cũng nhƣ nâng cao hoạt động quản lý đối với mô hình KTNB trƣờng học đã giúp cho việc quản lý nhà trƣờng một cách có hiệu quả. [33] Qua nghiên cứu trên đây có thể thấy, kiểm tra nội bộ trƣờng học đƣợc 7 các nhà quản lý giáo dục ở nƣớc ngoài rất coi trọng. Hoạt động kiểm tra trƣờng học đƣợc đánh giá cao trong việc nâng cao chất lƣợng giảng dạy của giáo viên, cũng nhƣ cải thiện chất lƣợng học tập của học sinh.
Ngoài ra, cũng cho thấy vai trò quyết định sự thành bại trong việc thực hiện các mục tiêu giáo dục của ngƣời đúng đầu nhà trƣờng trong việc tổ chức kiểm tra trƣờng học tại các nƣớc này. Những nghiên cứu ở trong nước Ở Việt Nam, ngay từ khi thành lập nƣớc, Đảng và Nhà nƣớc ta đã rất quan tâm đến giáo dục, coi sự dốt nát (do thiếu giáo dục) nguy hiểm nhƣ giặc ngoại xâm, ngày nay càng coi trọng giáo dục hơn, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành trung ƣơng Đảng khoá VIII đã khẳng định:“Phải thực sự coi giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu” toàn xã hội chăm lo đến sự nghiệp giáo dục. Vì mọi ngƣời nhận thức đƣợc: Giáo dục ngày nay đƣợc coi là nền tảng cho sự phát triển khoa học kỹ thuật, là cội nguồn để "dân giàu - nƣớc mạnh - xã hội công bằng, dân chủ, văn minh". Nhận thức đƣợc vai trò to lớn của giáo dục trong tiến trình xây dựng và phát triển đất nƣớc, các nhà nghiên cứu giáo dục trong nƣớc đã có nhiều công trình nghiên cứu về lý luận giáo dục, đặc biệt là về quản lý giáo dục: Tác giả Hà Sỹ Hồ trong cuốn: “Những bài giảng về quản lí trường học” đã khẳng định: “Quản lý mà không kiểm tra thì quản lý sẽ ít hiệu quả và trở thành quản lý quan liêu”.
Ông chỉ rõ: “Chức năng kiểm tra vô cùng quan trọng vì quá trình quản lý đòi hỏi những thông tin chính xác, kịp thời về thực trạng của dối tượng quản lý về việc thực hiện các quyết định đã đề ra, tức là đòi hỏi những liên hệ ngược chính xác, vững chắc giữa các phân hệ quản lý…” [19, tr. 26] Trong “Những khái niệm cơ bản về lý luận, quản lý giáo dục” tác giả Nguyễn Ngọc Quang khẳng định: Quá trình quản lý diễn ra qua năm giai đoạn: chuẩn bị kế hoạch hóa, kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra, 8 trong đó giai đoạn kiểm tra là giai đoạn cuối cùng kết thúc một chu trình quản lý. Kiểm tra tốt, đánh giá đƣợc sâu sắc và chuẩn bị trạng thái cuối cùng của nhà trƣờng thì kỳ kế hoạch (năm học) tiếp theo việc soạn thảo kế hoạch năm học mới sẽ thuận lợi, kế thừa các mặt mạnh để tiếp tục phát huy, phát hiện đƣợc lệch lạc để uốn nắn loại trừ. 73] Thông tƣ 39/2013/TT-BGDĐT, ngày 04/12/2013 của Bộ Giáo dục và Đào tạo hƣớng dẫn về thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực giáo dục đã chỉ rõ trách nhiệm của các cơ sở giáo dục: Các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục thƣờng xuyên xây dựng kế hoạch và tổ chức kiểm tra nội bộ, thực hiện chế độ báo cáo về công tác kiểm tra nội bộ theo quy định.
Nghị định số 42/2013/NĐ-CP của Chính phủ về tổ chức và hoạt động thanh tra giáo dục. Thông tƣ số 05/2014/TT-TTCP ngày 16/10/2014 của thanh tra chính phủ Quy định về tổ chức, hoạt động, quan hệ công tác của đoàn thanh tra và trình tự, thủ tục tiến hành một cuộc thanh tra. Một số bài viết đăng trên Tạp chí thông tin QLGD, các bài giảng trong các lớp đào tạo, bồi dƣỡng nghiệp vụ cho cán bộ thanh tra, cộng tác viên thanh tra, các báo cáo về công tác thanh tra, kiểm tra. các tác giả cũng quan tâm đến một số vấn đề chung về công tác thanh tra giáo dục, nhƣng chủ yếu chỉ đề cập đến các vấn đề xung quanh nội dung thanh tra, kiểm tra, đánh giá một nhà trƣờng, một giáo viên; quy trình tiến hành một cuộc thanh tra, kiểm tra.
Tuy vậy, công trình nghiên cứu đề cập về quản lý công tác kiểm tra tại các trƣờng tiểu học của Hiệu trƣởng vẫn chƣa cụ thể, sâu sắc. Do đó vấn đề này rất cần đƣợc tiếp tục nghiên cứu làm sáng rõ. Những tài liệu đã dẫn và những tài liệu viết về công tác thanh tra, kiểm tra trong giáo dục của các nhà khoa học thực sự là những tƣ liệu quý, thiết thực, đƣợc tác giả tham khảo trong quá trình thực hiện đề tài: “Quản lý hoạt động kiểm tra ở các trường 9 tiểu học thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên” nhằm góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu giáo dục trong giai đoạn mới. Các khái niệm cơ bản của đề tài 1.
Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường 1. Quản lý Quản lý là một trong những hiện tƣợng xuất hiện rất sớm, là một phạm trù tồn tại khách quan đƣợc ra đời từ bản thân nhu cầu của mọi chế độ xã hội, mọi quốc gia, mọi thời đại. Theo Harold Koontz, trong tác phẩm: "Những vấn đề cốt yếu của quản lý" quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó bảo đảm phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt đƣợc các mục đích của nhóm". Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trƣờng mà trong đó con ngƣời có thể đạt đƣợc các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất.Taylor: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm, và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”.
Sau này ông Lerence chủ tịch hiệp hội các nhà kinh doanh Mỹ đã khái quát quan điểm của F.Taylor và cho rằng: “Quản lý là thông qua người khác để đạt được mục tiêu của mình”. Cùng thời với F.Taylor, nhà quản lý hành chính ngƣời Pháp là H. Fayon lại định nghĩa quản lý theo các chức năng của nó. Fayon: “Quản lý là dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp và kiểm tra”.[32] Ở Việt Nam, tác giả Trần Kiểm cho rằng: “Quản lý là những tác hoạch định của chủ thể quản lý trong việc huy động, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất.[20] 10 Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản lý được coi là sự kết hợp của quản và lý.