Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC VĂN HÓA ĐỌC CHO HỌC SINH TIỂU HỌC 1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu nước ngoài Theo tác giả Kamalova, Lera A và tác giả Natal’ya D. Keletvinova (2016) trong bài“The Problem of Reading and Reading Culture Improvement of StudentsBachelors of Elementary Education in Modern High Institution”, trong đó nghiên cứu các vấn đề đọc và phát triển VHĐ trong học sinh và SV trong thời đại ngày nay tại Nga, qua đó các tác giả đã chỉ rõ những hệ quả liên quan đến sự sụt giảm VHĐ trong thanh niên đồng thời đưa ra các ý kiến giúp cộng đồng nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của VHĐ đối với việc nâng cao kiến thức, kỹ năng và hoàn thiện nhân cách mỗi cá nhân và sự phát triển xã hội cũng như đề xuất bài học giúp mỗi cá nhân tự rèn luyện để nâng cao VHĐ của mình từ đó thúc đẩy VHĐ của cộng đồng phát triển.
Trong đó, tác giả tập trung nghiên cứu thói quen đọc của lứa tuổi thiếu niên nói chung và thói quen đọc của học sinh trong độ tuổi này. Từ đó, tác giả đề xuất một số giải pháp mà giáo viên, cán bộ thư viện (CBTV) trường học cần thực hiện để tạo nên một môi trường đọc phù hợp và thúc đẩy việc đọc của các học sinh trung học cơ sở. [40] Tác giả Mesut Bulut (2015), Khoa Giáo dục của trường Đại học Bayburt, Thổ Nhĩ Kì cho rằng: Dạy đọc là một trong những mục tiêu quan trọng của nền giáo dục để đáp ứng trong việc áp dụng các giá trị của nền văn minh hiện đại. Cũng như giáo dục với các mục tiêu là tạo nên nền tảng tri thức vững chắc của con người thì VHĐ sẽ hình thành nên những đặc tính tâm lý, xã hội, tính nhân văn và triết học được thể hiện qua những hoạt động trong suốt cuộc đời của mỗi người.
Hơn thế nữa, VHĐ sẽ làm nâng cao giá trị cá nhân của con người trong xã hội, với những ai có thói quen đọc sẽ có những kỹ năng giao tiếp tốt, cách sử dụng ngôn ngữ chính xác linh hoạt, có đầu óc tư duy sắc bén, tầm nhận thức sâu rộng và có thể giải quyết vấn đề một cách độc lập hiệu quả. Những nghiên trong nước Tại Việt Nam, vấn đề phát triển VHĐ đã được nghiên cứu, bàn luận khá nhiều trong thời gian gần đây. Qua các bài báo, công trình nghiên cứu và luận văn, các tác giả đã đưa ra góc nhìn của mình về VHĐ, đồng thời phân tích những đặc điểm, tính chất và thực trạng VHĐ hiện nay, từ đó đã đưa ra nhiều giải pháp có tính chất lý luận và thực tiễn của việc phát triển VHĐ trong cộng đồng theo từng góc độ, hoàn cảnh và 6 đối tượng khác nhau. Theo các tác giả Trần Thị Minh Nguyệt (2009) trong bài “Văn hóa đọc trong xã hội thông tin” [19]; tác giả Nguyễn Công Phúc (2012) với bài “Văn hóa đọc và công tác đào tạo hướng dẫn bạn đọc – người dùng tin” [20]; tác giả Vũ Dương Thúy Ngà (2010) với nghiên cứu “ Biện pháp phát triển văn hóa đọc trong cộng đồng ở Việt Nam” [17] … với những góc nhìn khác nhau về VHĐ từ đó đưa ra nội hàm của khái niệm VHĐ, xem xét VHĐ ở bình diện cá nhân bao gồm các thành tố cơ bản là nhu cầu đọc, kỹ năng đọc và ứng xử văn hóa; khẳng định vai trò của các thư viện trong việc phát triển VHĐ; đồng thời nêu lên những mặt tích cực và hạn chế của VHĐ nước ta và đề xuất các giải pháp để thúc đẩy phát triển VHĐ trong cộng đồng trong giai đoạn hiện nay.
Trong bài viết nghiên cứu “Nhu cầu đọc và văn hóa đọc” của tác giả Nguyễn Hữu Viêm (2013) đã luận giải thuật ngữ nhu cầu đọc, tầm quan trọng, bản chất cũng như cách xác định nhu cầu đọc hiện nay. Tác giả đã tập trung nghiên cứu nội dung và quá trình thỏa mãn nhu cầu đọc và nghề nghiệp, mối quan hệ tương tác giữa nhu cầu đọc và VHĐ. Qua đó xác định nhu cầu đọc và vai trò của CBTV trong quá trình làm thỏa mãn nhu cầu đọc với việc hình thành và phát triển VHĐ. Theo các tác giả Nguyễn Hữu Giới (2006) với bài viết “ Văn hóa đọc trong bối cảnh bùng nổ truyền thông” [6]; tác giả Nguyễn Thanh Thúy (2007) “ Sách và văn hóa đọc thời hiện đại” [30] tác giả Trần Văn Hà “ Đẩy mạnh văn hóa đọc trong thời hiện đại công nghệ thông tin” [7] và tác giả Vũ Thị Thu Hà (2013) trong bài “ Văn hóa đọc ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập và phát triển” [8]… đã nghiên cứu vị thế và tầm ảnh hưởng của VHĐ với xã hội hiện nay, bằng những nhận định và các số liệu thực tế đã nêu lên thực trạng đọc sách trong bối cảnh bùng nổ truyền thông và thông tin, hội nhập và phát triển trước nhiều cơ hội mới và cả những khó khăn thách thức.
Trong nghiên cứu thực trạng VHĐ của thanh thiếu niên tại Bình Dương hiện nay, tác giả Nguyễn Văn Thục (2013) cho thấy những thay đổi đáng kể về VHĐ của nhóm thanh thiếu niên hiện nay: các hình thức đọc truyền thống đã dần nhường cho internet; việc đọc của thanh thiếu niên chịu ảnh hưởng bởi các nhóm bạn bè hơn là gia đình và thầy cô giáo, áp lực từ chương trình học quá tải khiến cho việc đọc của thanh thiếu niên giảm sút [29]. Tại Nghị quyết TW 5 khóa VIII của Đảng đã khẳng định “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội”. VHĐ là một bộ phận của văn hóa, chính vì vậy phát triển VHĐ luôn là một vấn đề mang ý nghĩa chiến lược của mọi quốc gia trong việc nâng cao dân trí, góp phần phát triển bền vững nguồn nhân lực - nhân tố quyết định của mọi thành công. Phát triển VHĐ trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước góp phần đem lại cho dân tộc Việt Nam sức mạnh trí tuệ trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.
Đề án Phát triển VHĐ giai đoạn 2011 -2020 đã nêu rõ những bước cụ thể hóa chiến lược phát triển Văn hóa đến năm 2020 của Đảng và Nhà nước với mục tiêu “xây 7 dựng phong trào đọc sách trong xã hội, góp phần xây dựng có hiệu quả các thế hệ đọc tương lai” trong đó đã chỉ rõ thực trạng VHĐ của bộ phận học sinh và SV, đã nêu lên các mặt hạn chế cụ thể của đối tượng đọc, thói quen đọc, xu hướng đọc, môi trường đọc và việc giáo dục thói quen đọc, kỹ năng đọc từ đó đã rút ra được những nguyên nhân của tình trạng trên. Đồng thời dự báo những cơ hội thách thức và xu hướng phát triển VHĐ từ đó xây dựng quan điểm, mục tiêu, giải pháp phát triển VHĐ cho từng giai đoạn cụ thể. Tác giả Nguyễn Hữu Viêm (2009) trong bài “Văn hóa đọc và phát triển văn hóa đọc ở Việt Nam” cho rằng: VHĐ ở Việt Nam đã có những bước phát triển, đồng thời tác giả đã chỉ ra những hạn chế của việc phát triển nền VHĐ Việt Nam như: chưa hình thành được chiến lược và kế hoạch phát triển VHĐ quốc gia; sự phân bố tài liệu đọc giữa nông thôn và thành thị mất cân đối; chưa tiến hành giáo dục kỹ năng đọc từ tiểu học đến đại học; công tác tuyên truyền hướng dẫn đọc chưa được tổ chức thường xuyên liên tục và có định hướng; chưa có những cuộc điều tra trên qui mô lớn xác định tình trạng đọc để có những hướng khắc phục, xây dựng một xã hội ham đọc. [35] Như vậy có thể thấy có rất nhiều công trình nghiên cứu về văn hoá đọc cho mọi người, tuy nhiên vẫn chưa có các công trình cụ thể nghiên cứu về văn hoá đọc cho đối tượng là học sinh tiểu học.
Văn hoá đọc cần được hình thành ngay tư khi trẻ còn nhỏ và bậc tiểu học là thời điểm vàng để giáo dục văn hoá đọc cho các em. Các khái niệm cơ bản của đề tài 1. Khái niệm văn hoá đọc Đọc là dạng lao động trí óc, món ăn tinh thần không thể thiếu trong cuộc sống con người. Nó dẫn ta đến kho tàng trí thức của nhân loại mà ở đó mỗi người không chỉ lĩnh hội, tích lũy những ý tưởng kinh nghiệm quý báu mà còn tìm thấy nguồn vui , khả năng cảm thụ cái đẹp.
Văn hoá đọc là một khái niệm có hai nghĩa, một nghĩa rộng và một nghĩa hẹp. Ở nghĩa rộng, đó là ứng xử đọc, giá trị đọc và chuẩn mực đọc của mỗi cá nhân, của cộng đồng xã hội và của các nhà quản lý và cơ quan quản lý nhà nước. Như vậy, văn hóa đọc ở nghĩa rộng là sự hợp thành của ba yếu tố, hay chính xác hơn là ba lớp như ba vòng tròn không đồng tâm, ba vòng tròn giao nhau. Còn ở nghĩa hẹp, đó là ứng xử, giá trị và chuẩn mực đọc của mỗi cá nhân.
Ứng xử, giá trị và chuẩn mực này cũng gồm ba thành phần: thói quen đọc, sở thích đọc và kỹ năng đọc. Ba thành phần này cũng là ba lớp, ba vòng tròn không đồng tâm, ba vòng tròn giao nhau. Muốn phát triển nền văn hóa đọc phải phát triển ứng xử, giá trị và chuẩn mục đọc lành mạnh của các nhà quản lý và cơ quan quản lý nhà nước, của cộng đồng xã hội và của mỗi cá nhân trong xã hội. Nhưng trọng tâm và là mục đích cuối cùng của phát triển văn hóa đọc chính là phát triển ứng xử, giá trị và chuẩn mực đọc lành mạnh của mỗi thành viên trong xã hội.
Ứng xử, giá trị và chuẩn mực đọc lành mạnh của mỗi cá nhân trong xã hội là thói quen đọc, sở thích đọc và kỹ năng đọc lành mạnh của họ. Đó 8 chính là nền tảng của một xã hội học tập, của việc học suốt đời, một yêu cầu cũng là một thách thức của xã hội hiện đại. Để hiểu sâu hơn về văn hóa đọc, chúng ta sẽ đi sâu vào từng nghĩa rộng và hẹp của khái niệm. Theo nghĩa rộng, đó là ứng xử đọc, giá trị đọc và chuẩn mực đọc của cộng đồng xã hội, các cơ quan quản lý nhà nước và các nhà quản lý, các thành viên trong xã hội.
Ứng xử đọc, giá trị đọc, chuẩn mực đọc của các nhà quản lý và cơ quan quản lý nhà nước là chính sách, đường lối, kế hoạch, biện pháp cụ thể nhằm phát triển nền văn hoá đọc quốc gia.