phần mở đầu, kết luận khuyến nghị, mục lục và tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được trình bày trong 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về hoạt động kiểm tra đánh giá và quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá môn Ngữ Văn theo hướng phát triển năng lực cho học sinh. Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động kiểm tra đánh giá và quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá môn Ngữ Văn theo hướng phát triển năng lực cho học sinh tại trường THCS Võ Thị Sáu, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá môn Ngữ Văn theo hướng phát triển năng lực cho học sinh tại trường THCS Võ Thị Sáu, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng. 5 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ VÀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ MÔN NGỮ VĂN THEO HƢỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CHO HỌC SINH 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Trên thế giới Trên thế giới, hoạt động quản lí kiểm tra đánh giá rất được quan tâm. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này. Từ thế kỷ XV - XVIII, nhà giáo dục Tiệp Khắc J.Comesnky đã là người nêu lên vai trò ý nghĩa của kiểm tra đánh giá quá trình lĩnh hội tri thức của học sinh và việc kiểm tra đánh giá phải căn cứ vào mục tiêu học tập và hướng dẫn học sinh tự kiểm tra đánh giá kiến thức của bản thân trong tác phẩm “Lý luận dạy học vĩ đại”.
Các công trình nghiên cứu khác như: Mô hình đánh giá theo mục tiêu ( Goal - based Model) hay mô hình E B Taylor; mô hình CIPP do L. Sutufflebeam đề xuất năm 1966; mô hình đánh giá sự khác biệt (Discrepancy Evaluation Model). Các nhà nghiên cứu đã phân tích và phát triển lý luận kiểm tra đánh giá ở các góc độ: vai trò, ý nghĩa, mục tiêu, nội dung, nguyên tắc và phương pháp nhằm đảm bảo tính khách quan của việc kiểm tra đánh giá. Bloom cùng George F.Thomas Hastings năm 1971 đã cho ra đời cuốn sách “Evaluation to improve Learning” (Đánh giá thúc đẩy học tập).
Đây là cuốn sách viết về kỹ thuật đánh giá kết quả học tập của học sinh dành cho giáo viên, cuốn sách hướng tới việc hoàn thiện và sử dụng các câu hỏi, các bài kiểm tra đánh giá quá trình học tập và các dạng bài kiểm tra khác do giáo viên tự làm được áp dụng cho học sinh một cách có hệ thống để tăng cường khả năng học tập của học sinh. Thông qua việc liên kết các kỹ thuật đánh giá tốt nhất, cuốn sách hỗ trợ các giáo viên sử dụng đánh giá như một công cụ để cải tiến cả quy trình dạy và ho ̣c. Rất nhiều vấn đề và góc độ của kiểm tra đánh giá đã được các tác giả nghiên cứu. Mỗi công trình đều có những điểm mạnh, điểm yếu và những 6 z mục đích kiểm tra đánh giá riêng.
Nhưng điểm chung nhất của các nghiên cứu là cùng tập trung nhấn mạnh ý nghĩa, tầm quan trọng của kiểm đánh giá kết quả học tập của học sinh, để đánh giá và nâng cao chất lượng giáo dục đáp ứng nhu cầu của xã hội. Ở Việt Nam Ở Việt Nam, vấn đề kiểm tra đánh giá đã hình thành và xuất hiện khá sớm. Các cuộc thi chọn người tài, người có học vấn được tổ chức định kỳ. Từ thời nhà Lý, năm 1070 vua Lí Thái Tông đã cho lập Văn Miếu - nơi được coi là trường Đại học đầu tiên của Việt Nam.
Cũng từ thời gian này việc học đã được quan tâm và trở nên bài bản hơn. Năm 1075, đời vua vua Lý Thái Tông đã tổ chức khoa thi đầu tiên. Chế độ khoa cử thời phong kiến bắt buộc sĩ tử phải trải qua thi Hương, thi Hội, thi Đình. Sĩ tử phải trải qua ba kỳ thi để đạt học vị cao nhất.
Giáo dục Nho giáo và thi cử thời phong kiến có luật khá nghiêm ngặt, thể lệ khắt khe. Hình thức tổ chức thi cũng gò bó, khó khăn và phần nào làm ảnh hưởng đến sự sáng tạo của sĩ từ khi làm bài. Thi cử có công bằng chính xác hay không lại phụ thuộc vào đánh giá nhận xét của giám khảo. Tuy thi cử thời bấy giờ còn có những bất công, nhưng cũng đào tạo và lựa chọn được nhiều trí thức tài giỏi, góp phần xây dựng và bảo vệ đất nước.
Kế thừa những thành tựu về kiểm tra đánh giá tri thức học sinh của một số nước trên thế giới, ở nước ta cũng đã có một số công trình nghiên cứu và những bài viết của các chuyên gia hàng đầu của Việt Nam. Trong đó phải kể đến: Nguyễn Đức Chính , “Đo lường và đánh giá kế t quả ho ̣c tâ ̣p của ho ̣c sinh” (2004) Nguyễn Đức Chính - Đinh Thi ̣Kim Thoa, “Kiể m tra đánh giá theo mu ̣c tiêu” (2005) Nguyễn Đức Chính, “Đo lường và đánh giá trong giáo dục và dạy học”, (2008). Trầ n Khánh Đức, “Đo lường và đánh giá trong giáo du ̣c” (2006) 7 z Nguyễn Bá Lam ̃ “Kiể m tra đánh giá trong da ̣y ho ̣c đa ̣i ho ̣c” (2003) Dương Thiê ̣u Tố ng , “Trắ c nghiê ̣m và đo lường thành quả ho ̣c tâ ̣p” (2005) Các nghiên cứu đã đề cập đến nhiều góc độ khác nhau song tất cả đều có chung một mục đích là đánh giá sự tiến bộ của người học qua từng giai đoạn, đánh giá mức độ đạt chuẩn của người học và cuối cùng là đánh giá chất lượng cả qúa trình giáo dục. Bên cạnh những công trình nghiên cứu về kiểm tra đánh giá đã nêu trên còn có những nghiên cứu về kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn: Nguyễn Thúy Hồng - Nguyễn Hồng Vân, “Đổi mới đánh giá kết quả học tập môn Ngữ văn của học sinh THCS, THPT” ( 2007) Vũ Xuân Lạng, “Đổi mới cách ra đề bài môn Ngữ văn cho học sinh THCS”, diễn đàn Dân trí 2011 Phan Thanh Vân, “ Xu hướng đổi mới kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn”, diễn đàn Dân trí 2011 giaoducphothong.vn, “Đổi mới đánh giá kết quả học tập môn Ngữ văn theo yêu cầu phát triển năng lực”, Diễn đàn hỗ trợ dạy và học tích cực 2014 Tài liệu tập huấn, “Dạy học và kiểm tra đánh giá kết quả học tập theo định hướng phát triển năng lực học sinh môn Ngữ văn cấp THCS”, Chương trình phát triển giáo dục trung học 2014 giaoducthoidai.vn “Học văn Trung học cơ sở”, báo Giáo dục và Thời đại 2014 Các nghiên cứu trên đã tập trung phân tích thực trạng, tìm nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng học tập môn Ngữ văn.
Trong đó các nghiên cứu cũng đã xác định một trong những nguyên nhân khiến chất lượng giáo dục không được nâng cao chính là do công tác kiểm tra đánh giá kết quả học tập của môn Ngữ văn. Các nghiên cứu đã đưa ra những biện pháp khả thi song 8 z chưa có nghiên cứu nào đưa ra biện pháp quản lí hoạt động kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn theo hướng phát triển năng lực cho học sinh. Đề tài “Quản lí hoạt động kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn theo hướng phát triển năng lực cho học sinh trường THCS Võ Thị Sáu quận Lê Chân thành phố Hải Phòng” lần đầu tiên được nghiên cứu với các số liệu được điều tra, thu thập tại trường THCS Võ Thị Sáu quận Lê Chân thành phố Hải Phòng có tính khả thi và cấp thiết trong nhiệm vụ nâng cao chất lượng môn Ngữ văn nói riêng và chất lượng giáo dục nói chung để đáp ứng yêu cầu về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục trong giai đoạn hiện nay. Các khái niệm cơ bản của đề tài 1.
Quản lý Từ xa xưa khi xã hội loài người xuất hiện, để thực hiện các mục tiêu mà cá nhân không thể đạt được thì quản lí xuất hiện. Quản lí đã trở thành một yếu tố cần thiết để kết hợp các cá nhân cùng hướng tới mục đích chung. Như vậy quản lý là cần thiết, quản lí trở thành một đặc điểm vốn có, bất biến về mặt lịch sử của đời sống xã hội. Các - Mác đã viết: "Bất cứ lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên một quy mô tương đối lớn đều yêu cầu phải có một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân.
Sự chỉ đạo đó phải là những chức năng chung, tức là những chức năng phát sinh từ sự khác nhau giữa sự vận động chung của toàn bộ cơ thể sản xuất với những vận động cá nhân của những khí quan độc lập hợp thành cơ thể sản xuất đó. Một nhạc sỹ độc tấu vĩ cầm thì tự điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì phải có nhạc trưởng. 480] Với nhiều cách tiếp cận ở các góc độ kinh tế, xã hội, giáo dục,. các nhà khoa học trong và ngoài nước đã đưa ra những định nghĩa tương đối đồng nhất về khái niệm quản lý.
Henry Fayol, nhà nghiên cứu người Pháp (1841 - 1925) cho rằng: Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động: Kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra. Ông còn khẳng 9 z định "Khi con người lao động hợp tác thì điều tối quan trọng là họ cần phải xác định rõ công việc mà họ phải hoàn thành và các nhiệm vụ của mỗi cá nhân phải là mắt lưới dệt nên mục tiêu của tổ chức. 31] Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu cũng có những định nghĩa khác nhau về thuật ngữ quản lý, tuỳ theo các cách tiếp cận khác nhau. Tác giả Trần Khánh Đức khẳng định "Quản lý là hoạt động có ý thức của con người nhằm phối hợp hành động của một nhóm người, hay một cộng đồng người để đạt được các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất.
Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì định nghĩa kinh điển nhất về quản lý là: "Quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo, (lãnh đạo) và kiểm tra.9] Qua các khái niệm trên, có thể hiểu khái niệm quản lý bao gồm các nội hàm chủ yếu: quản lý là hoạt động được tiến hành trong một tổ chức; với các tác động có tính hướng đích của chủ thể quản lý, nhằm phối hợp nỗ lực của các cá nhân để thực hiện mục tiêu của tổ chức. Bản chất của hoạt động quản lý là sự tác động có mục đích của người quản lý đến tập thể người bị quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý.