Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẦN LÝ HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP. CUA HQC SINH Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC NGHÈ NGHIỆP GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN 1.1, Lịch sử nghiên cứu vấn dé 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài về giáo đục người lớn, giáo đục thường xuyên - Vé giáo dục người lớn (GDNL): Các nước trên thể giới, đặc biệt các nước phát triển đã sớm nhận thức được rằng đầu tư vào “Vốn con người” là đầu tư cho phát triển, rằng đầu tư vào “ẩn nhân lực" không chỉ đơn giản là đẫu tư cho giáo dục giới trẻ để tạo nguôn nhân lực tương lai, mà đồng thời phải đầu tư vào việc tăng ngay kiến thức và chất lượng nguồn nhân lực hiện hành. Bat đầu từ cuỗi những năm 20 của thế ki XX, sư ra đời của cuốn sách **Việc học của người lớn” săm 7928 của E.L Thorndike (nhà giáo dục học người Mỹ) đã làm xoay chuyển nhận thức về khả năng học tập của người lớn.
Các nghiên cứu ngày càng đi đến sự nhất trí cho rằng học tập của người lớn phải là việc kéo đài suốt cuộc đời. Sự cần thiết và cấp bách của GDNL còn được Edgar Faure khẳng định. trong tác phâm #ọc để tân tại (1972) như sau: “*Giáo đục sẽ không còn là đặc. quyển của một tẳng lớp tính hoa hay là vẫn để cúa một nhóm độ tuổi nào đó.
Giáo dục sẽ dành cho tắt cả mọi người và dành cho suối cuộc đời của mỗi cả nhân”. Trên cơ sở phân tích bắt cập của hệ thống giáo dục đương thời trước những thay đổi nhanh chóng và mạnh mẽ trong mọi lĩnh vực của đời số cũng như trong sản xuất, ông đã kiến nghị các nước thành viên cần phải cải cách hệ thống giáo dục của mình. lấy nguyên tắc **Học tập suốt đời" la “Chia khod chinh”, do 46 “phai coi trọng phát triển GDNL song song với phát triển Giáo dục nhà trưởng chính quuy cho trế em ”. Những kết quả nghiên cứu từ nhiều nguồn khác nhau đã cho thấy một hệ tâm lý khác biệt của người lớn.
Ngày càng có nhiều nhà giáo dục trên thế giới khẳng định cần phải phát triển một chuyên ngành giáo dục mới, khác với Giáo dục học truyền thẳng (Padagogy). Đó là chuyên ngành “Giáo dục học. người lớn” (Andragosy), mà người có công khới xướng là một nhà giáo dục học người lớn nổi tiếng ở Mỹ - Malcom Knowles, người được mệnh danh là “Cha đẻ của Giáo dục học người lớn” (the Father of Andragogy). UNESCO là Tổ chức Quốc tế sớm nhận thức được vai trò và tằm quan trọng của giáo dục người lớn và đã có nhiều Sáng kiến, nhiều Chương trình hành động và Khuyến nghị phát triển GDNL trên phạm vi toàn thể giới.
Tử sau chiến tranh thể giới lẫn thứ 2, UNESCO đã tổ chức 6 Hội nghị thể giới GDNL như: Hội nghị thé giới GDNL lần thứ nhất tại Elsinor, Đan Mạch (1949); Hội nghĩ thế giới GDNL lẫn thir 2 tai Montreal, Canađa (1960); Hội nghị thế giới GDNL lẳn thứ 3 tại Tokyo, Nhật Bản (1972); Hội nghị thể giới GDNL lần 4 tại Paris, Pháp (1985); Hôi nghị thể giới GDNL lẫn 5 tại Hamburg. Các hội nghị trên nhằm rà soát, đánh giá tình hình phát triển GĐNL ở các nước và để xuất các Khuyển nghị, Chương trình hành động phát triển GDNL trên phạm vi toàn câu. Có thê thấy, ƯNESCO ngày càng khẳng định vị trí và vai trò của GDNL trong mục tiêu “Vì sự công bằng xã hội trong giáo duc” thong qua vige tạo cơ hội học tập cho những người thất học do chiến tranh. trong việc giáo dục tình yêu hoà bình, lòng khoan dung, đấy mạnh dân chủ, tạo ra nên văn hoá chung.
Bước sang thập kỉ 60 của thé ki XX, GDNL được đánh giá giữ vai trò quan trọng “trong thể giới đang đổi thay”, trong việc đáp ứng nhu cầu cập nhật kiến thức của người dân trước sự “bùng nỗ thông tin” và sự phát trién mạnh mẽ của khoa học, kĩ thuật và công nghệ. Đến thập kỉ 70 của thể kí XX, GDNL được đặt trong bối cảnh của “Giáo dục suốt đời". Và được coi là công cụ đưa giáo dục thế giới ra khỏi cuộc khủng khoảng lúc bấy giờ. Chuyên sang thập kí 80 của thể kỉ XX, vai trò của GDNL bit dau được.
một số vẫn để toàn cầu như vấn đẻ dân số, môi trường, vấn để củng cố hoà bình, tự do, công bằng và hợp tác quốc tế, giải quyết vấn để bắt bình đẳng. giữa các tằng lớp, các nhóm dân cư, giữa các nước giầu và các nước nghèo, vấn đẻ dân chủ hoá giáo dục, vấn để giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc, các di sản văn hoá. Đặc biệt, GDNL được cả thế giới đánh giá có vai trò quan trọng trong việc giúp mọi người học tập suốt đời (HTSĐ), đặc biệt đối với nhóm đối tượng thiệt thòi, “bị bò quên” như phụ nữ, trẻ em gái, thanh niên thất nghiệp. người tần tật, người già và người nghèo ở nông thôn.
Vào những thập kì cuối cùng của thế kỉ XX, GDNL được các nước phát triển coi là *Chìa khoá” bước vào thể kí XI và được thừa nhận đã có đóng góp to lớn vào việc đào tạo nguồn nhân lực cho phát triển kính té-xa hoi, phát triển cá nhân và giải quyết những vấn để có tính toàn cầu như xu thể toàn cầu hoá nên kinh tế, sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật, sự xuất a xã hội thông tin” và “nền kính tế trí thức” và những vi ê có tính toàn cầu khác như vấn để thất nghiệp, đói nghèo, ô nhiễm môi trưởng, bùng nỗ dân số, bản sắc văn hoá dân tộc v. Bước sang thế kỉ XXI, GDNL được các nhà giáo dục khắp thể giới kỳ vọng sẽ tạo cơ hội HTSĐ cho tất cả mọi người đẻ có thể chống chọi được với những thách thức của thời kỳ mới và được khẳng định là một bộ phãn quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân của các nước, góp phần hiện thực hóa. các mục tiêu Phát triển Thiên Niên Kỷ và Chương trình nghị sự về Phát triển bến vững” đo Liên Hợp quốc để ra. Nhận thức được vai trò ngày càng quan trọng của GDNL với tư cách là một trong 2 bộ phân của hệ thống giáo dục quốc dân của các nước, vì học tập.
UNESCO đã khẳng định “GDNL có đối tượng riêng nên cản phải được tổ chức một cách có hệ thông: cần được đầu tư kinh phí; cần có tài liệu riêng; cẩn có đội ngũ giáo viên, chuyên trách riêng; đội ngũ GV của GDNL cần phải được bồi dưỡng thường xuyên”. Đồng thời UNESCO cũng khuyến cáo GDNL "cần phải mềm dẻo, lình hoạt hơn và cẳn đến sự quan tâm và tham gia nhiều hơn của công đồng”. ~ VỀ giáo dục thường xuyên (GDTX): “Giáo dục thường xuyên" là một thuật ngữ được sử dụng rồng rãi ở nước ta cũng như nhiễu nước trên thế giới. Nhưng trên thực tẻ, trong các tác phẩm sách báo và trong nhiễu văn kiện của các tác giả và của các tổ chức giáo.
dục ở các nước, thì thuật ngữ GDNN-GIDTX được giải thích theo nhiều nghĩa khác nhau do cách hiểu khác nhau. Do vậy, việc đùng các thuật ngữ này cũng chưa được thống nhất. Ở Hoa Kỳ, GDTX dùng để chỉ toàn bộ các cơ hội giáo dục tiểu học, trung học và sau trung học đo các tổ chức công và tư tiến hành. Ngưởi tham gia thuộc bắt kỳ lửa tudi nào.
Với mục tiêu nhằm phát triển những kiến thức phỏ thông, kiển thức nghễ nghiệp dùng trong thời gian rỗi và phát triển nhân cách cho mọi người. Điễu này có nghĩa là, GDTX sẽ cung cấp cho người học. những hiểu biết và kỹ năng theo yêu cầu cuộc sống "cẩn gì học nấy”. 10 Ở một số quốc gia Châu Âu, như: Cộng hòa Pháp.
Tây Ban Nha. GDTX được hiểu là những hoạt động không ở trong các trường chỉnh quy. Đây là hoạt động tự phát mà trong đó, học tập là một sản phẩm ngẫu nhiên của cuộc sống, Quan niệm này gắn với cách hiểu của những người xây dựng Luật Giáo dục Việt Nam. khi cho rằng, GDTX là hệ thống giáo dục không chính quy.
Theo các cách hiểu trên, rất khó phân biệt được những nghiên cứu nào thật sự nói về “giáo dục thường xuyên” giỗng với cách hiểu ở nước ta. nhiên, về bản chất GDNL hay GDTX được trình bày ở trên có liên hệ mật thiết với nội dung tác giả nghiên cứu trong luận văn này. Những nghiên cứu ở Việt Nam về giáo dục người lớn, giáo đục thường xuyên Ở Việt Nam, giáo dục không chính quy (GDNL) cũng đã được quan tâm phát triển từ rắt sớm. Nguyên Bộ trưởng đầu tiên của Bộ Giáo dục quốc dân Vũ Đình Hòe đã khẳng định “Giáo dục ở học đưởng và Giáo dục ngoài học đường phải được coi là hai bộ phân của một nễn giáo dục.
hai công việc của. một tổ chức quan trọng như nhau và liên lạc mật thiết vởi nhau. Ông cũng đã biên soạn cuỗn sách “Một nồn giáo đực bình đâm" (1946) - một tài liệu quý về lý luận giáo dục bình đân/Giáo dục người lớn của Việt Nam. Ngay sau khi thành lập nước, với tư cách là Bộ trưởng Bộ Giáo dục quốc dân.
ông đã tham mưu với Hồ Chú Tịch ban hành Sắc lệnh số 17 ví thành lập Nha Bình dân học vụ để chăm nom việc học của dân chúng nhằm xóa nạn mù chữ do ông Nguyễn Công Mỹ làm Giám đốc. Tir dé dén nay, các công trình nghiên cứu về GDNN-GDTX ở nước ta đã tăng nhanh về số lượng cũng như chất. Nhiễu kết quả nghiên cứu trong số đó đã được áp dụng vào thực tế và mang lại hiệu quả cao. Điều này phản ánh đúng sự thay đôi thực tế của giáo dục hiện nay.
Cụ thể như sau: " Luận án tiễn sĩ của tác gid Tran Thị Quỳnh Loan (2016) với đề tài “Quản lý dạy học ở trung tâm GDNN-GDTX theo hướng xây dựng XHHT" để cập đến thực trạng GDNN-GDTX ở các trung tâm GDNN-GDTX cấp huyện của tỉnh Phú Thọ. Luân án đã đóng góp cho việc phát triển và hoàn thiện lý luận về quân lý đạy học ở trung tâm GDNN-GDTX theo hướng xây dựng XHHT, cùng với đó là để xuất và khẳng định sự cần thiết, hiệu quả cúa bốn nhóm biện pháp quản lý với mười hai biện pháp quản lý dạy học ở GDNN-GDTX theo hướng xây dựng XHHT. Các biện pháp để xuất mang tính khoa học. có hiệu quả cao.
'Từ đó nâng cao chất lượng day học ở các trung tâm GDNN-GDTX. Luận án tiến sĩ Giáo dục học của tác giả Đào Hoàng Nam (2009) với đẻ tài “Biên pháp đào tao hệ đại học tại các trung tâm giáo dục thưởng xuyên cap tỉnh khu vực đồng bằng sông Cứu Long”.