phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày trong 03 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục văn hoá dân tộc ở trường PTDTNT. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục văn hoá dân tộc ở trường PTDTNT THPT huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục văn hoá dân tộc ở trường 4 z PTDTNT THPT huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên. 5 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC VĂN HOÁ DÂN TỘC Ở TRƢỜNG PTDTNT 1.
Vài nét về lịch sử vấn đề nghiên cứu 1. Trên thế giới Các nước trên thế giới, đặc biệt là các quốc gia phát triển có nhiều công trình khoa học về lĩnh vực giáo dục bảo tồn, phát huy các giá trị văn hoá truyền thống dân tộc cho mỗi cộng đồng, mỗi tộc người. Phù hợp với sự phát triển kinh tế và đặc điểm vùng văn hoá, không gian văn hoá của mỗi quốc gia, coi trọng giáo dục thế hệ trẻ, đặc biệt là đối tượng học sinh trong các nhà trường. Thời kỳ xây dựng CNXH ở Liên Xô và một số nước XHCN Đông Âu đã có những nghiên cứu của một số tác giả liên quan đến đề tài trên quan điểm triết học như: Tác giả A.Dashdamirov với tác phẩm "Dân tộc và cá nhân" (NXB "ELM" BaKu 1976 - Bản dịch Tiếng Việt).
Tác phẩm đề cập tới quan hệ dân tộc và cá nhân, xem xét quan hệ cá nhân với tính cách là chủ thể các quan hệ xã hội. Tác giả có trình bày khái quát về cách nhìn nhận giá trị truyền thống với đặc trưng cơ bản của dân tộc đó là: Đoàn kết dân tộc. Tác giả An-phơ-rét Cô-din-gơ với tác phẩm "Dân tộc trong lịch sử và thời đại ngày nay" (NXB Thông tin lý luận, 1985) sử dụng quan điểm duy vật lịch sử phân tích vấn đề dân tộc, đề cập tới ý thức dân tộc và tình cảm dân tộc, giáo dục truyền thống ở mức độ khái quát. Những tác giả trên tuy không đề cập sâu đến nội dung giáo dục BSVH truyền thống trong nhà trường, nhưng góp phần làm phong phú thêm hiểu biết của chúng ta xung quanh vấn đề giáo dục bảo tồn văn hoá dân tộc theo quan điểm học thuyết Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh.
Tại Paris - Cộng hòa Pháp (tháng 5.2010) có Hội thảo quốc tế: “Các trường văn hóa nghệ thuật trong thế giới hội nhập 2010" với chủ đề "Nền văn hóa đa dạng cho sự đa dạng và phát triển”. Tham dự Hội thảo có hơn 70 khách mời là giáo sư, tiến sĩ, các nhà khoa học, lãnh đạo các trường văn hóa nghệ thuật (VHNT) đến từ hơn 20 nước trên thế giới. Mối quan tâm chung và lớn nhất là Hội thảo đã xác định, làm rõ và khẳng định được những vấn đề quan trọng nhất trong thời đại hiện nay, đó là vấn đề giữ gìn BSVH trong quá trình toàn cầu hóa, hội nhập và phát triển. Bảo tồn tính nguyên vẹn của không gian văn hóa các dân tộc, khôi phục, tái hiện và thống nhất các truyền thống văn hóa vật thể và phi vật thể của các dân tộc trên thế giới.
Vấn đề giáo 6 z dục trong văn hóa và các vấn đề thiết lập chiến lược hiệu quả để bảo tồn văn hóa dân tộc và truyền thống giáo dục trong không gian thế giới. Trong nước: Ở Việt Nam, dưới chế độ phong kiến do đặc điểm của hệ thống giáo dục và nội dung giáo dục, nên chưa có công trình nào đề cập đến vấn đề giáo dục bản tồn, phát huy BSVH dân tộc thiểu số ở Việt Nam nói chung, cũng như ở Điện Biên nói riêng. Thời kỳ thực dân phong kiến, mặc dù đã có hệ thống trường học do chế độ thực dân xây dựng với mục tiêu của giáo dục đào tạo là phục vụ mục đích xâm lược và chính sách cai trị của chế độ thực dân. Vì thế việc giáo dục bảo tồn BSVH các dân tộc nói chung và dân tộc thiểu số nói riêng trong trường học là đi ngược lại chính sách nô dịch văn hoá bản địa của chế độ thực dân phong kiến, nên chưa có công trình nào nghiên cứu về giáo dục bảo tồn BSVH truyền thống trong nhà trường.
Chỉ có một số công trình nghiên cứu về đặc điểm văn hóa của các dân tộc nhằm mục đích phục vụ cho chính sách "chia để trị’’của chế độ thực dân phong kiến. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đầu tiên khi truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam, Người đã biết kết hợp một cách đúng đắn, sáng tạo giữa tinh hoa văn hóa phương Đông và phương Tây, giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất nhiều lần nhấn mạnh việc giáo dục bảo tồn, phát huy BSVH, các giá trị truyền thống của các dân tộc Việt Nam. Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề này là một kho tàng lý luận có tính thực tiễn vô giá để lại cho Đảng và nhân dân ta tiếp tục nghiên cứu vận dụng trong công cuộc hội nhập và thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước hiện nay.
Vào thời kỳ đất nước đổi mới, nhất là những năm gần đây có nhiều công trình, đề tài khoa học, hội thảo khoa học về lĩnh vực văn hóa đã công bố liên quan đến đề tài với nhiều góc độ tiếp cận khác nhau. Có thể điểm tên một số nhà khoa học và công trình, đề tài nghiên cứu dưới đây: GS. Trần Văn Giàu với "Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam" (NXB KHXH, HN, 1980). Phan Huy Lê - Vũ Minh Giang với "Các giá trị truyền thống và con người Việt Nam hiện nay" (Chương trình KHCN cấp Nhà nước đề tài KX.07-02, gồm 2 tập xuất bản năm 1994 và 1996).Viện sĩ Trần Ngọc Thêm, với tác phẩm: "Tìm về BSVH Việt Nam"(NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 2001); “Cơ sở văn hóa Việt Nam, NXB GD,1997’’ đã cung cấp những kiến thức, khái niệm cơ sở nền tảng 7 z cho ngành văn hóa học.
Tác phẩm "BSVH Việt Nam" của GS.Tác giả Trần Mạnh Thường có tác phẩm "Việt Nam văn hóa và giáo dục – NXB VH-TT, 2010. Với quan điểm dân tộc học, GS. Phan Hữu Dật có tác phẩm "Góp phần nghiên cứu dân tộc học Việt Nam" (NXB CTQG, HN, 2004). Tác giả Nguyễn Hồng Hà "Văn hóa truyền thống dân tộc với giáo dục thế hệ trẻ " (NXB VHTT, HN, 2001); Tác giả Nguyễn Trung Hoà (Trung tâm nghiên cứu phát triển các dân tộc thiểu số và miền núi) với tham luận: “Tri thức bản địa bảo tồn và phát triển chữ, tiếng Thái vùng Tây Bắc”.
Và mới đây nhất là đề tài nghiên cứu khoa học “Nhà trường với vai trò bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số tỉnh Điện Biên” của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Điện Biên, 2013). Tóm lại, điểm qua lịch sử vấn đề nghiên cứu có thể khẳng định rằng quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc (VHDT) đã được nhiều nhà khoa học, nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục quan tâm, tìm hiểu và đã đề xuất được nhiều biện pháp quản lý bảo đảm tính khoa học, hiệu quả và khả thi. Tuy vậy, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện về quản lý hoạt động giáo dục VHDT ở trường PTDTNT. Kế thừa và phát triển các nội dung những người đi trước đã làm được, đề tài “Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc ở trường PTDTNT THPT huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên” được tổ chức triển khai nghiên cứu với mục đích sẽ góp phần tìm ra các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục VHDT ở trường PTDTNT THPT huyện Mường Ảng nói riêng, cũng như các cơ sở giáo dục trong hệ thống các trường PTDTNT thuộc tỉnh Điện Biên nói chung.
Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài 1. Văn hóa Văn hóa là khái niệm phức tạp, cho đến nay vẫn còn nhiều khái niệm khác nhau về nội hàm của khái niệm “Văn hóa”. Tuy nhiên cần phải khẳng định rằng “Văn hóa” là do con người tạo ra. Hồ Chí Minh đã nêu ra một định nghĩa về văn hoá: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đaọ đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt 8 z hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng.
Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó chính là văn hóa. Văn hóa là tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người sản sinh ra nhằm mục đích thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sinh tồn” [11, tr. Văn hóa là sự hợp nhất giá trị sáng tạo của con người trải qua nhiều thế hệ, bao gồm nhiều lĩnh vực, đa dạng về sản phẩm. Sản phẩm văn hóa tồn tại theo hình thức vật chất hoặc phi vật chất.
Sản phẩm văn hóa không ngừng được con người sáng tạo, lưu giữ, vận dụng và phát triển. Văn hóa dân tộc Mỗi dân tộc trong quá trình tồn tại và phát triển đều tạo dựng cho mình những giá trị văn hóa riêng. Giá trị văn hóa dân tộc là kết quả ứng xử của cộng đồng dân tộc trước điều kiện tự nhiên và xã hội xung quanh. Giá trị văn hóa dân tộc xuất hiện vừa là kết quả tất yếu của quá trình vận động tồn tại, vừa là hệ quả của những sáng tạo đáp ứng nhu cầu cuộc sống, có tác dụng chi phối các hoạt động của cộng đồng, được cộng đồng lưu giữ, trân trọng mà hình thành nên các giá trị truyền thống của chính dân tộc đó.
Giá trị văn hóa dân tộc trở thành căn cứ quan trọng để nhận diện một dân tộc và cũng là cơ sở để khẳng định sự tồn tại một dân tộc [11, tr. Văn hoá các dân tộc thiểu số Việt Nam là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền văn hoá Việt Nam phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc. Cùng với xu thế hội nhập và phát triển, những luồng văn hoá khác nhau xâm nhập vào đời sống xã hội ở vùng dân tộc thiểu số, gây ảnh hưởng, tác động mạnh đến văn hoá truyền thống các dân tộc thiểu số, đáng chú ý là nguy cơ phai mờ, biến dạng bản sắc dân tộc. Do vậy, việc bảo tồn, phát triển văn hoá các dân tộc thiểu số là nhiệm vụ cấp thiết, có ý nghĩa chiến lược cần phải tiếp tục thực hiện thường xuyên và lâu dài.