Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa tai nạn thương tích cho học sinh tại trường tiểu học. Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa tai nạn thương tích cho học sinh tại các trường tiểu học quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng. Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa tai nạn thương tích cho học sinh tại các trường tiểu học quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng. 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC PHÒNG NGỪA TAI NẠN THƢƠNG TÍCH CHO HỌC SINH TẠI CÁC TRƢỜNG TIỂU HỌC 1.Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1.
Các nghiên cứu ở nước ngoài Đại đa số các nước trên thế giới đều xem hoạt động giáo dục phòng ngừa tai nạn thương tích cho học sinh tại các trường học là vô cùng cần thiết và quan trọng. Sự giáo dục này không ch giúp các các em phát huy kỹ năng sống cho bản thân mà còn các kiến thức để bảo vệ mọi người xung quanh c ng như chính bản thân các em. Thương tích ở trẻ em là một vấn đề y tế công cộng ngày càng phát triển trên phạm vi toàn cầu. Đây là một lĩnh vực đáng lo ngại cho trẻ từ khi một tu i, liên tục góp phần vào tỷ lệ tử vong chung cho đến khi trẻ em đến tu i trưởng thành.
Mỗi năm có đến hàng trăm nghìn trẻ em tử vong vì thương tích hoặc bạo lực, và hàng triệu trẻ em khác phải chịu hậu quả của các thương tích không gây tử vong. Đối với mỗi lĩnh vực thương tích ở trẻ em, có nh ng biện pháp làm giảm khả năng xảy ra và mức độ nghiêm trọng của thương tích đã được kiểm chứng – nhưng nhận thức về vấn đề này và khả năng ngăn chặn nó, c ng như cam kết chính trị để thực hiện phòng ngừa thương tích ở trẻ em, vẫn còn ở mức thấp không thể chấp nhận được. Ở lứa tu i tiểu học, các em đã bước đầu nhận thức được các mối quan hệ và việc làm xung quanh. Nếu được trang bị đầy đủ kiến thức về phòng ngừa tai nạn thương tích thì đây là điều tích cực để giảm thiểu nh ng điều không mong muốn xảy ra xung quanh các em.
Đã có nh ng nghiên cứu về ạo lực đối với trẻ em của T ng thư ký Liên hiệp quốc và áo cáo thế giới về bạo lực đối với trẻ em kèm theo rà soát lại một cách sâu s c nh ng thương tích có chủ ý đối với trẻ em. Hơn n a, áo cáo thế giới về bạo lực và sức khỏe bao g m các chương nói về xâm hại trẻ em, bạo lực tình dục do WHO xuất bản đã ra đời năm 2002 để nói lên tiếng nói bảo vệ trẻ em trước nh ng tai nạn không mong muốn. Theo WHO thì TNTT là nguyên nhân hàng đầu gây ra tàn tật và tử vong. Mỗi ngày trên thế giới có 16.000 người chết do TNTT (theo WHO).
[32] Kèm theo tai nạn tử vong thì có vài ngàn người bị thương tật vĩnh viễn. Có khoảng 40% trường hợp trẻ tử vong từ 1-14 tu i ở các nước đang phát triển là do chấn thương. Hàng năm có 2300 trẻ em này tử vong là chấn thương do TNGT, ngã, bỏng, chết đuối,… Tuy nhiên t lệ tử vong do TNTT gi a các quốc gia phát triển và đang phát triển có khoảng cách rất lớn. Người dân sống ở các nước có thu nhập thấp và trung bình có t lệ tử vong do TNTT cao gấp 4 lần người dân ở nước có thu nhập cao hơn.
ên cạnh đó ở mọi quốc gia trẻ em, người già, người nghèo đều là nhóm có nguy cơ bị TNTT cao. Đặc biệt t lệ 7 này ở trẻ em nghèo cao gấp 3 - 4 lần trẻ sống trong gia đình khá giả. Tỷ lệ của nh ng TNTT chiếm 9% tỷ lệ tử vong toàn cầu, và là một mối đe dọa cho sức khỏe cộng đ ng ở mọi quốc gia trên thế giới. Đối với mỗi ca tử vong, WHO ước tính rằng có hàng chục ca nhập viện, hàng trăm lượt khám tại khoa cấp cứu và hàng ngàn cuộc hẹn gặp bác sĩ điều trị.
Trong khi đó, mỗi ngày có 1.000 trẻ em tử vong do một chấn thương hoặc nhiều hơn, hoặc có thể để lại khuyết tật suốt đời, tuy nhiên điều này có thể ngăn chặn bằng các biện pháp phòng chống chấn thương [27;2]. Chính vì nh ng lý do này mà việc giáo dục tai nạn thương tích cho trẻ em được chú trọng hơn, nhiều hội nghị, dự thảo đã được đưa ra, như Hội nghị quốc tế khu vực Châu Á - Thái ình Dương về phòng chống tai nạn thương tích hay các biện pháp phòng tránh TNTT do WHO và các t chức xã hội khác đưa ra để giảm thiểu tai nạn thương tích cho trẻ. Các nghiên cứu ở Việt Nam TNTT ở trẻ em Việt Nam hiện nay là một vấn đề vô cùng nghiêm trọng và nó đòi hỏi toàn xã hội phải có nh ng hành động thiết thực để ngăn chặn nh ng nguy cơ TNTT đe dọa đến tính mạng và sức khỏe của trẻ em nước ta. Từ năm 2001, đã có một nghiên cứu về TNTT ở trẻ em Việt Nam được tiến hành dưới sự hỗ trợ của Quỹ Nhi đ ng Liên hiệp quốc (Unicef) và trường Đại học Y tế công cộng.
Nh ng kết quả nghiên cứu về TNTT ở trẻ em Việt Nam trên diện rộng cùng với nh ng nghiên cứu gần đây và d liệu thu thập được của ộ Y tế năm 2006 đã giúp cho cộng đ ng xã hội thấy một bức tranh toàn cảnh về quy mô, mô hình và nguyên nhân TNTT trẻ em ở Việt Nam. Có thể nói, TNTT đã trở thành nguyên nhân hàng đầu gây tử vong cho trẻ em Việt Nam từ 1 tu i trở lên.198 trẻ trong độ tu i từ 0-19 tử vong từ nh ng TNTT có thể phòng chống được. Vì sự an toàn của trẻ em (TASC) tiến hành năm 2007 cho biết, tương ứng với một trẻ tử vong thì có 12 trẻ nằm viện hoặc thương tật vĩnh viễn và 34 trẻ cần chăm sóc y tế hoặc không thể đi học, đi làm do tai nạn thương tích. [6] Trước nh ng hậu quả đáng báo động về TNTT ở trẻ em Việt Nam, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách và hoạt động thiết thực để góp phần giảm thiểu TNTT ở trẻ: Đến nay đã có 43 t nh, thành phố lập an điều hành thực hiện chính sách quốc gia về phòng chống TNTT, trên 50 Sở LĐ-TB-XH đã xây dựng và được U ND t nh phê duyệt kế hoạch phòng chống TNTT ở trẻ… Nh ng nỗ lực trên của Nhà nước và xã hội đã góp phần giảm thiểu TNTT ở trẻ em.
Tuy nhiên, cần phải có một chương trình hành động dựa trên việc xây dựng chiến lược can thiệp có hiệu quả về phòng chống TNTT cho trẻ em Việt Nam trong giai đoạn từ 2010 - 2022. Đây sẽ là một bước đệm giúp cho hành động phòng chống TNTT ở trẻ em được thực hiện thành công. [6] Để hạn chế tình trạng đuối nước trong học sinh, ộ GD-ĐT vừa ban hành Kế hoạch triển khai công tác phòng, chống đuối nước, tai nạn thương tích ở trẻ em, học sinh năm 2021. Thời gian thực hiện Kế hoạch từ nay đến hết tháng 11/2021.
Việc thực 8 hiện kế hoạch nhằm nâng cao nhận thức và trang bị cho đội ng cán bộ, nhà giáo và học sinh, trẻ em nh ng kiến thức, kỹ năng để chủ động phòng, tránh tai nạn thương tích, đuối nước khi tham gia sinh hoạt trong đời sống hàng ngày, khi tiếp xúc với môi trường nước. Tạo sự lan tỏa, hình thành thói quen, kỹ năng đảm bảo an toàn phòng, chống đuối nước và phong trào tập luyện môn bơi nhằm nâng cao sức khỏe, bảo vệ bản thân trước tai nạn đuối nước… ộ GD-ĐT sẽ xây dựng Chương trình hành động của ngành giáo dục về phòng, ngừa tai nạn thương tích ở trẻ em, học sinh giai đoạn 2021-2030 theo Chương trình của Chính phủ. T chức phát động phong trào tập luyện môn bơi, phòng, ngừa tai nạn thương tích, đuối nước. Triển khai các giải pháp phòng, ngừa tai nạn thương tích, đuối nước nhằm đảm bảo an toàn cho trẻ em, học sinh.
Nhìn chung, giáo dục phòng ngừa tai nạn thương tích cho con người nói chung, cho học sinh tiểu học nói riêng đã được các nước trên thế giới và Việt Nam quan tâm khai thác, nghiên cứu dưới các góc độ khác nhau, nhưng với vấn đề giáo dục phòng ngừa TNTT cho học sinh tiểu học thông qua hoạt động giáo dục phòng ngừa TNTT ở các trường tiểu học trên địa bàn quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng chưa có đề tài nào nghiên cứu. Các khái niệm chính của đề tài 1. Quản lý , quản lý giáo dục, quản lý nhà trường * Quản lý Từ khi xã hội loài người được hình thành, hoạt động t chức, quản lý đã được quan tâm. Hoạt động quản lý b t ngu n từ sự phân công lao động nhằm đạt được hiệu quả cao hơn.
Đó là hoạt động giúp cho người đứng đầu t chức phối hợp sự nỗ lực của các thành viên trong nhóm, trong cộng đ ng nhằm đạt được mục tiêu đề ra. Quản lý dã trở thành một hoạt động ph biến diễn ra trên mọi lĩnh vực, mọi cấp độ và có liên quan đến mọi nguời. Ðó là loại hoạt động xã hội b t ngu n từ tính chất cộng đ ng dựa trên sự phân công và hợp tác dể làm một công việc nhằm đạt mục tiêu chung. Có nhiều cách giải thích khác nhau về quản lý tuỳ thuộc vào các cách tiếp cận c ng như góc độ nghiên cứu và hoàn cảnh kinh tế, xã hội, chính trị.
Dưới dây là một số quan điểm quản lý của một số tác giả: + Từ khi F. Taylor (1856-1915) phát biểu các nguyên lý về quản lý thì quản lý nhanh chóng phát triển thành một ngành khoa học. Ðược coi là cha đẻ của Thuyết quản lí khoa học, ông định nghĩa: “Quản lý” là cải tạo mối quan hệ gi a người với người, gi a người với máy móc, quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và cái đó làm thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất”. + Henri Fayol (1841-1925) với cống hiến lớn nhất của mình là xuất phát từ các loại hình "hoạt động quản lý", ông là người đầu tiên đã phân biệt chúng thành năm chức năng cơ bản: kế hoạch hoá, t chức, ch huy, phối hợp và kiểm tra.