CHƯƠNG 1 LUAN VAN CHAT LUONG download - 7 - : add luanvanchat@agmail.com CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1. Tổng quan về lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài C.Ănghen- người sáng lập ra học thuyết cách mạng XHCN là ông tổ của nền giáo dục hiện đại, cho rằng: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên qui mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [8,tr22].
Hai ông còn xác định mục đích của nền giáo dục XHCN là tạo ra: “con người phát triển toàn diện”. Muốn vậy phải theo: “phương thức giáo dục kết hợp với lao động sản xuất”.[20,tr10] Đây chính là phương thức giáo dục hiện đại.Lênin (1870-1924), Người phát triển học thuyết giáo dục XHCN của C.Ănghen đã đưa ra quan điểm: Người hiệu trưởng trong nhà trường XHCN không phải chỉ cần biết tổ chức việc dạy và học theo yêu cầu xã hội mà điều quan trọng hơn là phải biến nhà trường thành một “công cụ của chuyên chính vô sản” (Lênin - bàn về giáo dục).Lênin đã vận dụng phương thức giáo dục của C.Ănghen vào thực tiễn và coi là một trong những nguyên tắc của giáo dục XHCN. Trong bài phát biểu “Nhiệm vụ của thanh niên” (1920), Người nói: “Chỉ có thể trở thành người cộng sản khi biết lao động và hoạt động xã hội cùng với công nhân và nông dân” Vào những năm 60-70, đất nước LiênXô đang trên con đường xây dựng CNXH, việc giáo dục con người phát triển toàn diện được Đảng Cộng Sản và Nhà Nước quan tâm. Các nghiên cứu về lý luận giáo dục nói chung và HĐGDNGLL nói riêng được đẩy mạnh.
Trong cuốn sách “Tổ chức và lãnh đạo công tác giáo dục ở trường phổ thông”, tác giả I.Marienco đã trình bày sự thống nhất của công tác giáo dục trong và ngoài giờ học, nội dung và các hình thức tổ chức HĐGDNGLL, vị trí của người hiệu trưởng trong việc lãnh đạo HĐGDNGLL và các tổ chức Đội thiếu niên và Đoàn thanh niên. Các nghiên cứu trong nước Trong những năm gần đây giáo dục các nước đã và đang có những định hướng cơ bản nhằm đào tạo một thế hệ năng động, sáng tạo, có những năng lực chủ yếu như năng lực thích ứng, năng lực tự hoàn thiện, năng lực hợp tác, năng lực hoạt động xã hội…nên việc ra đời chương trình HĐGDNGLL trong thời kỳ đổi mới và tìm những biện pháp có hiệu quả, khả thi để chương trình này trở thành hiện thực là một việc làm cấp thiết trong giai đoạn hiện nay. Các nhà nghiên cứu và các nhà QLGD như , Phạm Minh Hạc, Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Hà Nhật Thăng, Bùi Sỹ Tụng, Lê Văn Cầu, Nguyễn Dục Quang …đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến những khía cạnh khác nhau của HĐGDNGLL như vai trò, biện pháp quản lý, hình thức tổ chức trong trường và ngoài nhà trường ở các bậc học khác nhau. Hiện nay có nhiều tài liệu, nhiều luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ nghiên cứu vấn đề này: - Hoàng Thị Minh Hương với nghiên cứu luận văn thạc sĩ: các biện pháp quản lý HĐGDNGLL của hiệu trưởng trường tiểu học quận Hồng Bàng-Hải Phòng - Nguyễn Thị Thành với luận án tiến sĩ "Các biện pháp tổ chức HĐGDNGLL cho HS THPT - Trong sách "HĐGD NGLL" dành cho HS THPT - sách giáo viên 10,11,12 cũng đã nêu lên mục tiêu, nội dung chương trình, phương tiện, trang thiết bị cho việc tổ chức HĐGDNGLL, đánh giá kết quả tổ chức HĐGDNGLL của HS, đồng thời hướng dẫn thực hiện cụ thể các chủ điểm.
LUAN VAN CHAT LUONG download - 8 - : add luanvanchat@agmail.com Như vậy đã có không ít các tác giả nghiên cứu về vấn đề HĐGD NGLL nhưng ở nhiều khía cạnh khác nhau, song về góc độ HĐ quản lý của hiệu trưởng đối với HĐGDNGLL ở trường THPT Kiến An nói riêng và các trường THPT ở quận Kiến An là chưa được đề cập có hệ thống, đặc biệt chưa có công trình nào nghiên cứu vấn đề HĐGD NGLL khối THPT tại thành phố Hải Phòng. Một số khái niệm liên quan đến đề tài 1. Quản lý Quản lý là một hiện tượng có thuộc tính lịch sử, nó là nội tại của quá trình lao động. QL là một trong những loại hình lao động quan trọng nhất và lâu đời của con người.
Nó phát triển không ngừng theo sự phát triển của xã hội. QL là một hoạt động cần thiết cho tất cả các lĩnh vực của đời sống con người và là một nhân tố của sự phát triển xã hội. Vì vậy lý luận về QL được hình thành và phát triển qua các thời kỳ và các lý luận về chính trị, kinh tế và xã hội. Tuy nhiên chỉ mới gần đây người ta mới chú ý đến “chất khoa học” của quá trình QL và dần dần hình thành các “lý thuyết QL”.Taylor phát biểu các nguyên lý về QL thì QL nhanh chóng phát triển thành một ngành khoa học.
Bất cứ một tổ chức một lĩnh vực nào, từ sự hoạt động của nền kinh tế quốc dân, hoạt động của một doanh nghiệp, một đơn vị hành chính sự nghiệp, đến một tập thể thu nhỏ như tổ sản xuất, tổ chuyên môn bao giờ cũng có hai phân hệ: Người QL và đối tượng bị QL. Theo quan điểm của C.Mác: Bất cứ lao động nào của xã hội hay cộng đồng ở một qui mô tương đối lớn đều cần ở một chừng mực nhất định của hoạt động QL. QL là xác lập sự tương hợp giữa công việc cá thể nhằm hoàn thành chức năng chung, xuất hiện trong sự vận động của toàn bộ cơ chế sản xuất khác với sự vận động đối với các bộ phận riêng lẻ của nó. Bản chất của QL là hoạt động lao động để điều khiển lao động- một hoạt động tất yếu vô cùng quan trọng trong quá trình phát triển của xã hội loài người.
Nó bắt nguồn từ lao động và có ý nghĩa lịch sử, vĩnh hằng với tư cách là một loại hình lao động để điều khiển mọi hoạt động xã hội về kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục… Các loại hình lao động ngày càng phong phú, phức tạp thì hoạt động QL ngày càng có vai trò quan trọng và những chức năng đặc biệt bởi lẽ: Do lao động mà sinh ra QL- QL là nội tại của lao động. Có nhiều quan điểm khác nhau về QL tùy thuộc vào các cách tiếp cận, góc độ nghiên cứu và hoàn cảnh xã hội, kinh tế, chính trị. Có thể điểm qua một số lý thuyết đó như sau: - F.Taylor (1856-1915), người được mệnh danh là cha đẻ của lý luận quản lý khoa học, đã cho rằng cốt lõi trong QL là: “Mỗi loại công việc dù nhỏ nhất đều phải chuyên môn hóa và phải QL chặt chẽ”. “QL là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó như thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất” [14,tr.
- Henry Fayol (1841- 1925), cha đẻ của thuyết hành chính thì lại coi QL là một loại công việc đặc thù, khác với các loại công việc khác của xí nghiệp và trở thành một hệ thống độc lập, phát huy tác dụng riêng của nó mà các hệ thống khác của xí nghiệp không thể nào thay thế được. Ông nói về nội hàm của khái niệm QL như sau: “QL tức là lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra” [18,tr 59] Năm yếu tố trên đã tồn tại như những chuẩn mực được tuân theo một cách phổ biến trong QL hiện đại. - Mary Parker Follett (1868 - 1933) đã có những đóng góp lớn lao trong thuyết hành vi QL khẳng định: “QL là một quá trình lao động, liên tục, kế tiếp nhau chứ không tĩnh tại” - P.Drucker luôn nhấn mạnh QL sinh ra từ thực tiễn và trở về với thực tiễn. Ông quan niệm: “Quyền uy duy nhất của QL chính là thành tựu mà nó có thể đạt được” [18,tr.338] LUAN VAN CHAT LUONG download - 9 - : add luanvanchat@agmail.Koontz (Mỹ), người được coi là cha đẻ của lý luận QL hiện đại, đã viết: “QL là một hoạt động thiết yếu; nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất” [16,tr29] - Theo từ điển Tiếng Việt: QL là: “Tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, một cơ quan”, “là trông coi, gìn giữ và theo dõi việc gì”.
Nghĩa Hán Việt của “quản” là trông coi và gìn giữ theo những yêu cầu nhất định, duy trì sự vật ở trạng thái ổn định; quá trình “lý” bao gồm sửa sang, sắp đặt công việc, đổi mới, đưa hệ thống đó vào phát triển. Trong “quản” phải có “lý” thì toàn bộ mới có thể phát triển, trong “lý” phải có “quản” thì sự phát triển của hệ mới ổn định, bền vững. Hai quá trình này phải được gắn bó chặt chẽ với nhau thì toàn hệ mới đạt được thế cân bằng động, tồn tại và phát triển phù hợp trong mối tương tác với các yếu tố bên trong và bên ngoài. -Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Bản chất của hoạt động QL gồm hai quá trình tích hợp vào nhau, quá trình “quản” gồm sự coi sóc giữ gìn để duy trì tổ chức ở trạng thái ổn định; quá trình “lý” gồm sự sửa sang, sắp xếp đổi mới đưa hệ vào thế phát triển”.
Vậy quản lý = Quản + Lý Hệ ổn định mà không phát triển thì tất yếu dẫn đến suy thoái. Hệ phát triển mà không ổn định tất yếu dẫn đến rối ren. Vậy: Quản lý = Ổn định + Phát triển. - Nghiên cứu về khoa học quản lý, các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: “QL là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận động các chức năng kế hoạch hóa, tổ chức chỉ đạo và kiểm tra” [10, tr.
Hoạt động QL là “tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể QL (người bị QL)- trong một tổ chức - nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [9, tr.2] - Theo Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ: “QL là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, QL có hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định.