Luận văn thạc sĩ quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong các trường dạy nghề đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động ts quản lý giáo dục 62 14 05 01

Luận văn thạc sĩ giáo dục nghiên cứu quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong các trường dạy nghề đáp ứng yêu cầu của thị trường, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân,

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Quản lý giáo dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2013

268
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP TRONG CÁC TRƯỜNG DẠY NGHỀ

1.1. Tổng quan lịch sử vấn đề nghiên cứu

1.2. Một số khái niệm

1.3. Hướng nghiệp trong trường dạy nghề

1.4. Dạy nghề và trường dạy nghề

1.5. Nghề và nguyên tắc chọn nghề

1.6. Quản lý và quản lý giáo dục

1.7. Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp

1.8. Thị trường lao động

1.9. Hướng nghiệp với thị trường lao động

1.10. Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong các trường dạy nghề đáp ứng yêu cầu của TTLĐ

1.11. Đặc điểm và yêu cầu tổ chức giáo dục hướng nghiệp trong trường dạy nghề

1.12. Các thành tố của công tác quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp

1.13. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp

1.14. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP TRONG CÁC TRƯỜNG DẠY NGHỀ

2.1. Đối tượng, phương pháp khảo sát thực trạng

2.2. Thực trạng công tác hướng nghiệp ở nước ta trong thời gian qua

2.3. Thực trạng công tác giáo dục hướng nghiệp trong trường dạy nghề

2.4. Thực trạng nhận thức giáo dục hướng nghiệp trong trường dạy nghề

2.5. Thực trạng triển khai thực hiện công tác giáo dục hướng nghiệp trong các trường dạy nghề

2.6. Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong các trường dạy nghề đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động

2.7. Thực trạng quản lý đầu vào công tác hướng nghiệp

2.8. Thực trạng quản lý quá trình tiến hành hướng nghiệp

2.9. Thực trạng quản lý đầu ra công tác hướng nghiệp

2.10. Thực trạng quản lý giai đoạn giáo dục hướng nghiệp

2.11. Thực trạng quản lý hình thức hướng nghiệp

2.12. Những nguyên nhân dẫn đến thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong trường dạy nghề

2.13. Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong trường dạy nghề

2.14. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP TRONG CÁC TRƯỜNG DẠY NGHỀ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CỦA THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG

3.1. Định hướng phát triển các trường dạy nghề trong cuộc đổi mới giáo dục và nguyên tắc đề xuất các giải pháp

3.2. Một số giải pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong các trường dạy nghề đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động

3.2.1. Giải pháp 1: Nâng cao nhận thức về giáo dục hướng nghiệp cho cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh ở các trường dạy nghề

3.2.2. Giải pháp 2: Tổ chức xây dựng phòng hướng nghiệp trong trường dạy nghề

3.2.3. Giải pháp 3: Chỉ đạo thực hiện đồng bộ hoạt động GDHN trước, trong và sau quá trình đào tạo trong các trường dạy nghề

3.2.4. Giải pháp 4: Xây dựng cơ chế phối hợp GDHN bốn bên: Trường dạy nghề - Trường phổ thông – Doanh nghiệp – Tổ chức cung ứng lao động

3.2.5. Giải pháp 5: Triển khai đồng bộ các chức năng quản lý nội dung của hoạt động GDHN

3.3. Mối quan hệ giữa các giải pháp

3.4. Kiểm nghiệm đánh giá các giải pháp

3.4.1. Mục đích và nội dung kiểm nghiệm

3.4.2. Phương pháp kiểm nghiệm đánh giá

3.4.3. Kết quả kiểm nghiệm đánh giá

3.5. Kết luận chương 3

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Quản Lý Giáo Dục Hướng Nghiệp Dạy Nghề

Giáo dục hướng nghiệp (GDHN) đóng vai trò then chốt trong việc kết nối trường dạy nghề với thị trường lao động. Trong bối cảnh đổi mới giáo dục, GDHN cần được đổi mới căn bản và toàn diện, bao gồm nội dung, chương trình, phương pháp và quản lý. Điều này đòi hỏi sự thay đổi trong các hoạt động định hướng, tư vấn, thích ứng và tuyển chọn nghề nghiệp. Quyết định 126/CP năm 1981 đã không còn phù hợp với sự phát triển của thị trường lao động hiện đại, đòi hỏi các trường dạy nghề phải chủ động hơn trong việc định hướng nghề nghiệp cho học sinh. Sự phát triển của công nghiệp hóa đòi hỏi coi trọng công tác HN, chuẩn bị cho thanh niên đi vào lao động nghề nghiệp phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế. GDHN ở trường dạy nghề được triển khai từ năm 1998 đến năm 2004 trong 15 trường nghề trọng điểm thuộc dự án GDKT&DN. Song, cho đến nay GDHN ở trường dạy nghề còn manh mún, nhỏ lẻ, chưa được các cấp quan tâm đúng mức, đã tác động đến quá trình học tập và hành nghề của HS sau khi tốt nghiệp.

1.1. Tầm quan trọng của Giáo dục hướng nghiệp trong dạy nghề

GDHN không chỉ là một hoạt động đơn lẻ mà là một quá trình liên tục, xuyên suốt quá trình đào tạo. Nó giúp học sinh hiểu rõ về bản thân, về thế giới nghề nghiệp và về nhu cầu thị trường lao động. GDHN giúp học sinh lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với năng lực, sở thích và điều kiện kinh tế - xã hội. Theo Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng, vấn đề HN đặt ra rõ ràng: “Coi trọng công tác HN và phân luồng HS trung học, chuẩn bị cho thanh niên đi vào lao động nghề nghiệp phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu KT trong cả nước và từng địa phương. Xây dựng quy hoạch đào tạo nhân lực theo phương thức kết hợp học tập trung, học từ xa, học qua máy tính”.

1.2. Sự cần thiết đổi mới quản lý giáo dục hướng nghiệp

Quản lý GDHN cần được đổi mới để đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động và sự phát triển của khoa học công nghệ. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội trong việc thực hiện GDHN. Việc quản lý cần tập trung vào việc xây dựng chương trình GDHN phù hợp, đào tạo đội ngũ giáo viên có năng lực, cung cấp thông tin về thị trường lao động và tạo điều kiện cho học sinh tham gia các hoạt động thực tế. Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, công việc tăng quy mô đào tạo nghề được nhấn mạnh, đồng thời, Đảng cũng chỉ ra những địa bàn phát triển nghề nghiệp mà công tác GDHN phải thật sự chú trọng.

II. Thách Thức Quản Lý Giáo Dục Hướng Nghiệp Tại Trường Nghề

Mặc dù có vai trò quan trọng, công tác GDHN trong các trường dạy nghề hiện nay vẫn còn đối mặt với nhiều thách thức. Nhiều học sinh chưa nhận thức được ý nghĩa và vị trí của nghề mình chọn. Chương trình đào tạo chưa bám sát xu thế chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động. Nhận thức về tầm quan trọng của GDHN trong đội ngũ cán bộ, giáo viên và học sinh còn hạn chế. Quản lý công tác GDHN còn lỏng lẻo, thiếu sự đầu tư và quan tâm đúng mức. Điều này dẫn đến tình trạng học sinh ra trường thiếu kỹ năng, khó tìm việc làm hoặc không đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động. Theo khảo sát, nhiều HS đã được tuyển vào trường nghề rồi mà vẫn chưa nhận thức được ý nghĩa, vị trí của nghề mình chọn trong hệ thống nghề được đào tạo.

2.1. Thiếu hụt kỹ năng mềm và kinh nghiệm thực tế

Một trong những thách thức lớn nhất là sự thiếu hụt kỹ năng mềm và kinh nghiệm thực tế của học sinh sau khi tốt nghiệp. Các em thường thiếu các kỹ năng giao tiếp, làm việc nhóm, giải quyết vấn đề và thích ứng với môi trường làm việc. Việc thiếu kinh nghiệm thực tế cũng khiến các em gặp khó khăn trong việc áp dụng kiến thức đã học vào thực tế công việc. Việc đào tạo nghề của nhà trường chưa bám sát xu thế chuyển dịch cơ cấu KT và cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hóa.

2.2. Hạn chế về nguồn lực và cơ sở vật chất cho hướng nghiệp

Nhiều trường dạy nghề còn thiếu nguồn lực và cơ sở vật chất để thực hiện tốt công tác GDHN. Phòng hướng nghiệp chưa được trang bị đầy đủ, đội ngũ giáo viên tư vấn còn thiếu kinh nghiệm và kiến thức về thị trường lao động. Việc liên kết với doanh nghiệp còn hạn chế, khiến học sinh ít có cơ hội được thực tập và trải nghiệm thực tế. Tuy HN được tổ chức trong nhà trường nhưng hầu hết cán bộ, nhân viên, GV và HS trong trường chưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của GDHN.

2.3. Nhận thức chưa đầy đủ về vai trò của giáo dục hướng nghiệp

Do thiếu nhận thức đầy đủ và sâu sắc vai trò, vị trí của GDHN trong quá trình dạy nghề nên quản lý công tác này rất lỏng lẻo. Từ thực tế trên đây, chúng tôi đã quyết định chọn vấn đề “Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong các trường dạy nghề đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động” làm đề tài luận án tiến sĩ.

III. Giải Pháp Nâng Cao Nhận Thức Về Giáo Dục Hướng Nghiệp

Để giải quyết những thách thức trên, cần có các giải pháp đồng bộ và hiệu quả. Trước hết, cần nâng cao nhận thức về GDHN cho cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh. Cần tổ chức các khóa đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao năng lực cho đội ngũ giáo viên tư vấn. Cần tăng cường tuyên truyền, giáo dục để học sinh hiểu rõ về vai trò của GDHN trong việc lựa chọn nghề nghiệp và phát triển bản thân. Cần tạo điều kiện cho học sinh tham gia các hoạt động trải nghiệm thực tế, gặp gỡ các chuyên gia và doanh nghiệp để hiểu rõ hơn về thị trường lao động.

3.1. Tổ chức các buổi hội thảo tập huấn về hướng nghiệp

Tổ chức các buổi hội thảo, tập huấn về GDHN cho cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh. Mời các chuyên gia về thị trường lao động, các nhà tuyển dụng và các cựu học sinh thành đạt đến chia sẻ kinh nghiệm. Cung cấp thông tin về các ngành nghề đang có nhu cầu tuyển dụng cao, các kỹ năng cần thiết để thành công trong công việc và các cơ hội phát triển nghề nghiệp.

3.2. Xây dựng tài liệu và công cụ hỗ trợ tư vấn hướng nghiệp

Xây dựng các tài liệu và công cụ hỗ trợ tư vấn GDHN, bao gồm các bài trắc nghiệm tính cách, sở thích, năng lực, các bản mô tả công việc, các video giới thiệu về các ngành nghề và các trang web cung cấp thông tin về thị trường lao động. Cung cấp các tài liệu này cho học sinh, giáo viên và phụ huynh để họ có thể tự tìm hiểu và khám phá về thế giới nghề nghiệp.

IV. Xây Dựng Phòng Hướng Nghiệp Chuyên Nghiệp Tại Trường Nghề

Xây dựng phòng hướng nghiệp trong trường dạy nghề là một giải pháp quan trọng để nâng cao chất lượng GDHN. Phòng hướng nghiệp cần được trang bị đầy đủ các thiết bị, tài liệu và công cụ hỗ trợ tư vấn. Cần có đội ngũ giáo viên tư vấn chuyên nghiệp, có kiến thức về thị trường lao động và kỹ năng tư vấn tốt. Phòng hướng nghiệp cần trở thành một địa điểm tin cậy để học sinh tìm kiếm thông tin, được tư vấn và hỗ trợ trong quá trình lựa chọn nghề nghiệp.

4.1. Trang bị cơ sở vật chất và tài liệu hướng nghiệp đầy đủ

Trang bị cho phòng hướng nghiệp các thiết bị như máy tính, máy chiếu, internet, sách báo, tạp chí về nghề nghiệp, các bản đồ nghề nghiệp, các video giới thiệu về các ngành nghề và các phần mềm trắc nghiệm tính cách, sở thích, năng lực. Đảm bảo phòng hướng nghiệp luôn sạch sẽ, thoáng mát và có không gian yên tĩnh để học sinh có thể tập trung tìm hiểu thông tin.

4.2. Tuyển dụng và đào tạo đội ngũ tư vấn viên chuyên nghiệp

Tuyển dụng đội ngũ tư vấn viên có trình độ chuyên môn về GDHN, có kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực tư vấn và có kiến thức về thị trường lao động. Tổ chức các khóa đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao năng lực cho đội ngũ tư vấn viên, giúp họ có thể cung cấp dịch vụ tư vấn chất lượng cao cho học sinh.

V. Liên Kết Bốn Bên Trường Nghề Phổ Thông Doanh Nghiệp

Để GDHN đạt hiệu quả cao, cần xây dựng cơ chế phối hợp giữa trường dạy nghề, trường phổ thông, doanh nghiệp và các tổ chức cung ứng lao động. Trường phổ thông cần cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản về nghề nghiệp và giúp các em định hướng nghề nghiệp từ sớm. Trường dạy nghề cần đào tạo học sinh theo nhu cầu của doanh nghiệp và tạo điều kiện cho các em được thực tập và làm việc tại doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần tham gia vào quá trình đào tạo, cung cấp thông tin về thị trường lao động và tạo cơ hội việc làm cho học sinh sau khi tốt nghiệp.

5.1. Tổ chức các chương trình tham quan doanh nghiệp và thực tập

Tổ chức các chương trình tham quan doanh nghiệp để học sinh có cơ hội được tìm hiểu về môi trường làm việc thực tế, được gặp gỡ các chuyên gia và công nhân lành nghề. Tạo điều kiện cho học sinh được thực tập tại doanh nghiệp để áp dụng kiến thức đã học vào thực tế công việc và rèn luyện kỹ năng nghề.

5.2. Mời doanh nghiệp tham gia xây dựng chương trình đào tạo

Mời các doanh nghiệp tham gia vào quá trình xây dựng chương trình đào tạo để đảm bảo chương trình đào tạo đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động. Lắng nghe ý kiến của doanh nghiệp về các kỹ năng cần thiết cho người lao động và điều chỉnh chương trình đào tạo cho phù hợp.

VI. Quản Lý Nội Dung Giáo Dục Hướng Nghiệp Toàn Diện Nhất

Quản lý nội dung GDHN cần được thực hiện một cách đồng bộ và toàn diện, bao gồm các hoạt động tư vấn, định hướng, cung cấp thông tin về thị trường lao động, tổ chức các hoạt động trải nghiệm thực tế và đánh giá năng lực của học sinh. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ phận trong nhà trường để đảm bảo GDHN được thực hiện hiệu quả. Cần thường xuyên kiểm tra, đánh giá và điều chỉnh nội dung GDHN cho phù hợp với sự thay đổi của thị trường lao động.

6.1. Xây dựng hệ thống đánh giá năng lực và sở thích nghề nghiệp

Xây dựng hệ thống đánh giá năng lực và sở thích nghề nghiệp của học sinh, sử dụng các công cụ trắc nghiệm, phỏng vấn và quan sát. Cung cấp cho học sinh thông tin phản hồi về kết quả đánh giá để giúp các em hiểu rõ hơn về bản thân và lựa chọn nghề nghiệp phù hợp.

6.2. Cập nhật thông tin về thị trường lao động thường xuyên

Cập nhật thông tin về thị trường lao động thường xuyên, bao gồm các ngành nghề đang có nhu cầu tuyển dụng cao, các kỹ năng cần thiết để thành công trong công việc, mức lương trung bình và các cơ hội phát triển nghề nghiệp. Cung cấp thông tin này cho học sinh, giáo viên và phụ huynh để họ có thể đưa ra những quyết định sáng suốt về lựa chọn nghề nghiệp.

08/06/2025
Luận văn thạc sĩ quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong các trường dạy nghề đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động ts quản lý giáo dục 62 14 05 01

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Cơ sở lý luận của công tác quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong các trường dạy nghề. Chương 2: Thực trạng về quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong các trường dạy nghề Chương 3: Một số giải pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong các trường dạy nghề đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động. 8 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƢỚNG NGHIỆP TRONG CÁC TRƢỜNG DẠY NGHỀ 1. Tổng quan lịch sử vấn đề nghiên cứu 1.

Ở nước ngoài Công tác GDHN xuất hiện khá sớm trên thế giới. Từ giữa thế kỷ XIX, ở Pháp đã xuất hiện những phòng HN. Khách hàng chủ yếu là thanh niên đang lựa chọn nghề nghiệp [107]. Khi nói về quyền tự do chọn nghề K.Marx đã nhận định:“Khả năng lựa chọn nghề nghiệp là mặt ưu việt của con người trước những tồn tại khác của thế giới, nhưng đồng thời việc lựa chọn ấy lại là một hành động có thể tiêu diệt cuộc sống của họ, làm tiêu tan mọi dự định của họ và làm cho họ bất hạnh.

Do vậy, việc lựa chọn này cần phải đắn đo suy nghĩ, đó là trách nhiệm đầu tiên của thanh niên khi bước vào đời” [2]. Theo Frank Parson:“Một nghề được lựa chọn không phù hợp với năng khiếu, năng lực của người lao động là một nghề không có hiệu quả, không có động lực, không có sự thích thú khi làm việc và cũng là nghề nghiệp có thu nhập thấp, trong khi một nghề nghiệp phù hợp với năng lực và sở trường thì thường khuyến khích người ta làm việc thực hiện tốt yêu cầu công việc, làm tăng giá trị KT, làm ra các sản phẩm có chất lượng, các dịch vụ có hiệu quả và thu nhập cao” [25, tr. Một số nhà khoa học ở Úc đã tiến hành nghiên cứu về GDHN như Allan Waller với công trình khoa học “Một số vấn đề quản lý giáo dục ở Australia”. Ông đã chỉ ra: “Nhà trường hiện nay không chỉ là nơi dạy lý thuyết, mà phải cung cấp cho HS một khả năng chuyển đổi thật nhanh và có sự bình đẳng giữa các HS, làm cho HS vừa có kỹ năng lao động, vừa có tri thức”[73, tr.

9 z Prot Bernard viết về mô hình GDHN theo lý thuyết mà AdamSmith đã xây dựng. Mô hình có tính chất KT được bắt đầu từ sự phân tích lao động, Ông cho rằng: "Người quản lý GDHN nên biết được KT thị trường" [108]. Tổ chức lao động quốc tế (ILO) [104] đã đưa ra nhiều khuyến cáo các quốc gia, nhất là các nước đang phát triển, về việc đào tạo nghề gắn với TTLĐ để giải quyết việc làm, gắn với việc phân công lao động của các quốc gia. Các khuyến cáo đó hiện đang được thực hiện trong đào tạo, mang lại những hiệu quả tốt đẹp.

Hầu hết, các quốc gia quản lý hoạt động GDHN được các trường dạy nghề coi trọng. Do đó, việc đầu tư vào các công cụ, phương pháp, cách thức quản lý được quan tâm thường xuyên. Với quan điểm đào tạo nghề đáp ứng yêu cầu của TTLĐ, các trường dạy nghề đã thấy được sự cần thiết phải quản lý hoạt động GDHN. Các trường dạy nghề ở châu Âu đã tiến hành quản lý hoạt động GDHN thông qua hội đồng tư vấn nhà trường.

Hội đồng theo dõi, kiểm tra kế hoạch và thời gian thực hiện các hoạt động GDHN của nhà trường [119]. Tuy nhiên, các trường thường tập trung quản lý kế hoạch để nâng cao được hiệu quả đào tạo trong nhà trường. Theo tác giả ML. Steinbruckner, trong việc hướng dẫn chọn nghề và đào tạo nghề phải tính đến yếu tố giới tính, tránh trường hợp bất hợp lý trong quá trình đào tạo.

Do đó, trường dạy nghề phải tổ chức hoạt động GDHN trước khóa học [111]. Friedman, nhà xã hội học lao động, cho rằng: “Không có mục đích chung nào cho lao động. Do đó, quản lý hoạt động GDHN phải căn cứ vào mục đích lao động thích hợp với các loại hình lao động và phù hợp với nền văn hóa và kỹ thuật”[109]. 10 z Vào 1985, ở Pháp có sự thay đổi về hệ thống nghề nghiệp do sự tác động của toàn cầu hóa.

GDHN thực hiện tại một thời điểm phải chuyển sang GDHN suốt đời. Công tác đào tạo lại và bồi dưỡng phải có ý nghĩa gắn với từng cá nhân, gắn với sự thay đổi nghề của người lao động. Do đó, người ta đặt lại vị trí quản lý hoạt động GDHN trong nhiệm vụ mới [106]. Trong điều kiện hiện nay, nhu cầu nhân lực ở trình độ trung cấp ngày càng lớn, do ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất trong khi đó quy mô các trường đại học không thể tăng do ràng buộc về tài chính quốc gia cũng như do nhu cầu về cơ cấu trình độ nhân lực.

Số HS ở tuổi 17 hoặc 18 không vào được đại học hoặc cao đẳng thường không được chuẩn bị nghề, nên càng làm tăng tỷ lệ thất nghiệp, gây khó khăn cho XH. Nếu sau khi tốt nghiệp trung học cơ sở, một số học sinh được đào tạo trong các trường dạy nghề thì sẽ tiết kiệm rất lớn cho ngân sách nhà nước. Do vậy, phân luồng học sinh sau trung học cơ sở là xu hướng mà nhiều quốc gia đang theo đuổi và phân luồng trong đào tạo là xu hướng phát triển giáo dục nghề nghiệp trên thế giới. Đài Loan: Sự phát triển đúng hướng của hệ thống giáo dục đã góp phần to lớn vào quá trình phân luồng HS.

Hệ thống giáo dục của Đài Loan được phân thành hai luồng rất rõ rệt, sau trung học cơ sở chỉ khoảng 20% được vào trường trung học phổ thông, còn 80% sẽ vào trường trung học phổ thông tổng hợp hoặc trung học nghề [85]. Việc mở ra các cơ hội, có định hướng theo năng lực, gắn đào tạo với cơ cấu nhân lực phù hợp đã góp phần quan trọng trong phát triển KT – XH của Đài Loan. Indonesia: Hệ thống giáo dục cũng được phân thành 2 luồng rõ rệt: đào tạo theo hướng hàn lâm và đào tạo theo hướng công nghệ thực hành. Những năm trước đây, ở Indonesia phần lớn HS tốt nghiệp trung học cơ sở đã chọn vào trung học phổ thông (70% - 80%).

Một vài năm gần đây, Chính phủ Indonesia đã quyết định là phải giảm dần tỷ lệ HS sau trung học cơ sở vào 11 z trung học phổ thông và tăng dần tỷ lệ HS sau trung học cơ sở vào hệ Trung học nghề. Với quyết định đó, năm 2007, tỷ lệ HS sau trung học cơ sở vào trung học phổ thông chỉ còn 57% và 43% vào các trường Trung học nghề [85]. Thái Lan: Hệ thống giáo dục của Thái Lan phân khoảng 50% HS sau khi tốt nghiệp trung học cơ sở lên trung học phổ thông, 50% chuyển sang học nghề trình độ sơ cấp và trung cấp; sau khi tốt nghiệp HS được học lên cao đẳng nghề [85]. Ở nhiều quốc gia châu Âu, tỉ lệ HS trung học phổ thông tham gia học nghề rất cao, được thể hiện ở bảng 1.Tỷ lệ phân luồng học sinh sau trung học cơ sở một số quốc gia châu Âu Nước Giáo dục nghề nghiệp% Giáo dục phổ thông% Áo 81 19 Hungary 73 27 Đức 72 28 Hà Lan 70 30 Bỉ 61 39 Na Uy 58 42 Đan Mạch 57 43 Pháp 54 46 Thụy Điển 52 48 Phần Lan 52 48 Nguồn: [27].

Tại Mỹ, thông tin TTLĐ được các trường dạy nghề rất chú trọng trong quá trình thực hiện GDHN. Nội dung quản lý hoạt động GDHN chủ yếu là quản lý thông tin TTLĐ [89]. 12 z Tại Úc, việc quản lý hoạt động GDHN trong trường dạy nghề chú ý nhiều đến tổ chức quản lý kế hoạch, nội dung, chương trình GDHN gắn với chương trình đào tạo theo TTLĐ nhằm đạt được sự gắn kết mục tiêu đào tạo trong nhà trường với mục tiêu sử dụng nhân lực sau đào tạo trong các doanh nghiệp [106]. Tại Cộng hòa liên bang Đức, người ta rất chú trọng đến việc GDHN.

Ở đây, công tác quản lý hoạt động GDHN trong trường dạy nghề được gắn với quản lý đào tạo trong nhà trường, có tính đến yêu cầu nhân lực của các doanh nghiệp, nơi sử dụng lao động [106]. Hiện nay, công tác GDHN trong trường dạy nghề ở nhiều nước Châu Âu (Áo, Thụy Sĩ, Đan Mạch, Hà Lan) và Châu Á (Nhật Bản, Indonesia, Hàn Quốc, Philipines).đã đi vào nề nếp. Tuy nhiên, các nhà khoa học giáo dục vẫn tiếp tục nghiên cứu về GDHN trong trường dạy nghề nhằm ngày càng cải thiện chất lượng giáo dục nghề nghiệp cũng như cách thức quản lý để phát huy các mặt tích cực của quá trình đào tạo đáp ứng yêu cầu TTLĐ. Tóm lại, hướng nghiệp, quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp đã được các nhà khoa học ngoài nước đề cập đến.

Tuy nhiên, mỗi tác giả chỉ đề cập đến một số vấn đề hướng nghiệp, quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp khác nhau mà chưa nghiên cứu một cách toàn diện và chưa hình thành được lý luận về quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong trường dạy nghề đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động một cách hệ thống. Ở Việt Nam Công tác HN trong trường dạy nghề được triển khai theo Quyết định số 773/QĐ-TTg của Chính phủ ngày 7/9/1999 về việc phê duyệt dự án GDKT & DN và theo Quyết định 1150 /QĐ-TTg của Chính phủ về việc phê duyệt danh sách 15 trường trọng điểm tham gia dự án [17]. Trong 15 trường này, công tác HN được chỉ đạo thực hiện. Danh sách các trường triển khai công tác HN 13 z được thể hiện ở bảng 1.

Quá trình hình thành hệ thống HN được chia thành 3 giai đoạn sau [83]: - Thiết lập hệ thống HN ở cơ sở dạy nghề từ 12/2001 đến tháng 4/2003; - Hoàn thiện hệ thống HN trong 15 trường trọng điểm từ 04/2003 đến tháng 12/2003; - Nhân rộng hệ thống HN ra các trường nghề của Tổng cục Dạy nghề từ 01/2004 đến tháng 12/2004. Do vậy, công tác HN đã triển khai trong các trường dạy nghề. Song, cho đến nay công tác HN còn nhiều bất cập, chưa hiệu quả, thiếu tính hệ thống và chưa nâng cao được chất lượng đào tạo trong nhà trường. Hệ thống HN ở trường dạy nghề của nước ta được hình thành sau hệ thống HN ở phổ thông.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Quản Lý Hoạt Động Giáo Dục Hướng Nghiệp Trong Các Trường Dạy Nghề Đáp Ứng Thị Trường Lao Động" cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách thức quản lý và tổ chức các hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong các trường dạy nghề, nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động hiện nay. Tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kết nối giữa giáo dục và thực tiễn, giúp sinh viên có được những kỹ năng cần thiết để thành công trong công việc.

Độc giả sẽ tìm thấy nhiều lợi ích từ tài liệu này, bao gồm các phương pháp quản lý hiệu quả, cách thức xây dựng chương trình học phù hợp và những chiến lược để nâng cao chất lượng đào tạo. Để mở rộng thêm kiến thức, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận văn thạc sĩ giáo dục năng lực thích ứng nghề nghiệp cho học sinh sinh viên trường cao đẳng nghề du lịch cần thơ, nơi cung cấp cái nhìn sâu hơn về việc phát triển năng lực nghề nghiệp cho sinh viên. Bên cạnh đó, Dạy học trải nghiệm và vận dụng trong đào tạo nghề điện dân dụng cho lực lượng lao động nông thôn cũng là một tài liệu hữu ích, giúp bạn hiểu rõ hơn về phương pháp dạy học thực tiễn. Cuối cùng, Luận án tiến sĩ giáo dục học rèn luyện kỹ năng cốt lõi của sinh viên khối ngành kỹ thuật sẽ cung cấp thêm thông tin về việc phát triển kỹ năng cho sinh viên trong các lĩnh vực kỹ thuật. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và có cái nhìn toàn diện hơn về giáo dục nghề nghiệp.