Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục (mã số: 62 14 05 01) với đề tài "Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong các trường dạy nghề đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động" được nghiên cứu sinh Bùi Văn Hưng thực hiện tại Trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS. Phạm Tất Dong và GS.TS. Nguyễn Thị Mỹ Lộc (Hà Nội, 2013).

Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo theo tinh thần Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, gắn đào tạo với nhu cầu nhân lực của thị trường lao động. Quyết định số 126/CP ngày 19/3/1981 của Chính phủ về công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông sau hơn 30 năm áp dụng đã bộc lộ nhiều điểm bất cập trước sự chuyển dịch từ kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường: công nghệ sản xuất hiện đại hóa khiến các họa đồ nghề cũ không còn phù hợp; mục tiêu đào tạo chuyển từ việc đưa người học vào biên chế nhà nước sang tự tìm kiếm hoặc tạo việc làm; đồng thời văn bản này chỉ quy định hướng nghiệp ở trường phổ thông mà bỏ trống cấp độ dạy nghề. Mặc dù hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong trường dạy nghề đã được triển khai thí điểm tại 15 trường trọng điểm thuộc dự án Giáo dục kỹ thuật và Dạy nghề giai đoạn 1998–2004, việc tổ chức sau đó vẫn mang tính tự phát, manh mún, thiếu sự chỉ đạo và quản lý đồng bộ.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án là trên cơ sở nghiên cứu lý luận và đánh giá thực trạng, đề xuất các giải pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong các trường dạy nghề nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề, đáp ứng yêu cầu nhân lực của thị trường lao động trong nước.

Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định gồm 4 nội dung:

  1. Làm rõ cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong các trường dạy nghề;
  2. Khảo sát, đánh giá thực trạng công tác quản lý giáo dục hướng nghiệp trong các trường dạy nghề, làm rõ hiệu quả của giáo dục hướng nghiệp trong quá trình dạy nghề thời gian qua;
  3. Đề xuất một số giải pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong các trường dạy nghề đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động;
  4. Tổ chức kiểm nghiệm đánh giá các giải pháp đã đề xuất.

Câu hỏi nghiên cứu của luận án gồm 5 vấn đề:

  1. Có cần giáo dục hướng nghiệp trong trường dạy nghề (Tại sao cần tổ chức giáo dục hướng nghiệp trong trường dạy nghề)?
  2. Công tác giáo dục hướng nghiệp trong trường dạy nghề có những nét đặc thù nào?
  3. Thực trạng giáo dục hướng nghiệp và quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong các trường dạy nghề ở Việt Nam hiện nay như thế nào?
  4. Công tác quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cần có những nội dung gì để phù hợp với đặc điểm của việc tổ chức hướng nghiệp trong trường dạy nghề đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động?
  5. Những giải pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp nào cần thực hiện trong các trường dạy nghề để đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động?

Giả thuyết khoa học của đề tài: Mục tiêu giáo dục - đào tạo phải gắn liền với mục tiêu phát triển kinh tế. Nhu cầu nhân lực của thị trường lao động phản ánh sự phát triển kinh tế và sản xuất từng giai đoạn; do đó, quản lý giáo dục hướng nghiệp là hoạt động điều chỉnh liên tục quá trình đào tạo nghề gắn với yêu cầu của thị trường, bảo đảm cân bằng quy luật cung – cầu. Nếu công tác quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong các trường nghề được triển khai khoa học, hợp lý theo các giải pháp đáp ứng yêu cầu thị trường lao động thì sẽ nâng cao được chất lượng đào tạo nghề và đáp ứng tốt nhu cầu nhân lực trong nước.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Khách thể nghiên cứu: Hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong các trường dạy nghề hiện nay ở nước ta.
  • Đối tượng nghiên cứu: Yêu cầu về nguồn nhân lực của thị trường lao động; nội dung của các giải pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong các trường dạy nghề đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động.
  • Giới hạn nghiên cứu: Luận án tập trung vào các trường cao đẳng nghề đào tạo 3 cấp trình độ (sơ cấp nghề, trung cấp nghề, cao đẳng nghề). Yêu cầu thị trường lao động được xác định theo yêu cầu của các nhà tuyển dụng (doanh nghiệp, tổ chức cung ứng lao động).
  • Địa bàn khảo sát thực trạng: 7 cơ sở gồm Trường Cao đẳng nghề Kỹ thuật Công nghệ TP.HCM, Trường Cao đẳng nghề Đồng Nai, Trường Cao đẳng nghề Công nghệ cao Đồng An, Trường Cao đẳng nghề Bình Thuận, Trường Cao đẳng nghề Phú Yên, Trường Cao đẳng nghề Bách nghệ Hải Phòng, Trường Trung cấp Kỹ thuật Vĩnh Phúc.
  • Địa bàn thử nghiệm giải pháp: Trường Cao đẳng nghề Kỹ thuật Công nghệ TP.HCM.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án phân tích lịch sử nghiên cứu vấn đề theo hai mảng tài liệu trong và ngoài nước:

Ở nước ngoài, tác giả trích dẫn các quan điểm lý luận nền tảng như K. Marx về quyền tự do chọn nghề gắn với trách nhiệm bản thân; Frank Parson về sự tương thích giữa năng khiếu, sở trường với yêu cầu nghề nghiệp nhằm tạo ra giá trị kinh tế; Adam Smith và mô hình giáo dục hướng nghiệp gắn với phân tích lao động kinh tế thị trường được Prot Bernard phân tích; Allan Waller tại Úc với yêu cầu đào tạo kỹ năng lao động chuyển đổi nhanh; khuyến cáo của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) về đào tạo nghề gắn với thị trường lao động; nghiên cứu của ML. Steinbruckner về yếu tố giới tính trong tư vấn nghề; Friedman về xã hội học lao động. Tại châu Âu, việc quản lý hướng nghiệp được thực hiện qua hội đồng tư vấn nhà trường để giám sát kế hoạch và thời gian (Pháp năm 1985 chuyển sang định hướng học tập suốt đời). Tài liệu của luận án cũng tổng hợp số liệu về phân luồng học sinh sau trung học cơ sở tại châu Âu:

Quốc gia Tỷ lệ học giáo dục nghề nghiệp (%) Tỷ lệ học giáo dục phổ thông (%)
Áo 81 19
Hungary 73 27
Đức 72 28
Hà Lan 70 30
Bỉ 61 39
Na Uy 58 42
Đan Mạch 57 43
Pháp 54 46
Thụy Điển 52 48
Phần Lan 52 48

Bên cạnh đó, các mô hình phân luồng tại châu Á được dẫn chứng như Đài Loan (sau THCS khoảng 20% vào THPT, 80% vào THPT tổng hợp hoặc trung học nghề), Indonesia (năm 2007 có 57% vào THPT và 43% vào trung học nghề), Thái Lan (50% vào THPT, 50% vào học nghề sơ cấp và trung cấp); cùng kinh nghiệm quản lý thông tin thị trường lao động tại Mỹ và gắn kết đào tạo doanh nghiệp tại Úc, Đức.

Ở Việt Nam, hoạt động hướng nghiệp trong trường dạy nghề được triển khai theo Quyết định số 773/QĐ-TTg ngày 7/9/1999 phê duyệt dự án Giáo dục kỹ thuật và Dạy nghề và Quyết định 1150/QĐ-TTg phê duyệt 15 trường trọng điểm:

TT Danh sách 15 trường dạy nghề trọng điểm tham gia dự án (1998–2004)
1 Trường Trung học Y Lai Châu
2 Trường Cao đẳng nghề Thanh niên Dân tộc Tây Nguyên
3 Trường Cao đẳng Sư phạm Kỹ thuật Vinh (Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vinh)
4 Trường Cao đẳng nghề Đà Lạt
5 Trường Cao đẳng Nông lâm
6 Trường Cao đẳng Công nghiệp Huế
7 Trường Cao đẳng nghề Cần Thơ
8 Trường Cao đẳng nghề Cơ giới Cơ khí Xây dựng 1
9 Trường Cao đẳng nghề Công nghiệp Hải Phòng
10 Trường Cao đẳng Sư phạm Vĩnh Long
11 Trường Cao đẳng Công nghiệp IV (Trường Đại học Công nghiệp TP.HCM)
12 Trường Cao đẳng nghề Đồng Nai
13 Trường Cao đẳng Công nghiệp Hà Nội (Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội)
14 Trường Kỹ thuật và Nghiệp vụ Giao thông Vận tải 1
15 Trường Cao đẳng nghề Đà Nẵng

Các giai đoạn hình thành hệ thống hướng nghiệp trường nghề gồm: thiết lập hệ thống ở cơ sở (12/2001 - 4/2003); hoàn thiện ở 15 trường trọng điểm (4/2003 - 12/2003); nhân rộng ra các trường thuộc Tổng cục Dạy nghề (1/2004 - 12/2004). Nghị định 75/2006/NĐ-CP và Chỉ thị 02/CT-BLĐTBXH ngày 1/10/2010 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cũng đã xác định giáo dục hướng nghiệp là trách nhiệm chung của toàn xã hội và các cơ sở dạy nghề.

Luận án tổng kết các nghiên cứu liên quan gồm: Tống Thị Nga (Viện Nghiên cứu Xã hội TP.HCM) với số liệu học sinh tốt nghiệp làm đúng nghề chỉ đạt 30% - 50%; Nguyễn Minh Đường, Phan Văn Kha về đào tạo nhân lực theo yêu cầu công nghiệp hóa - hiện đại hóa; Nguyễn Hữu Dũng về mối quan hệ giữa định hướng nghề và thị trường lao động; các đề tài mô tả nghề giai đoạn 1982–1986 của Đặng Danh Ánh, Nguyễn Viết Sự, Đỗ Thị Hòa, Phạm Đức Quang; các luận văn thạc sĩ về công cụ hướng nghiệp nghề may, cầu đường, nghề điện của Hoàng Văn Bình (2009), Trần Phương (2009), Đỗ Xuân Canh (2009), Bùi Văn Hưng (2009); các luận án tiến sĩ về giáo dục hướng nghiệp tại trường phổ thông, trung tâm giáo dục thường xuyên của Bùi Việt Phú, Huỳnh Thị Tam Thanh, Lê Hồng Minh, Nguyễn Thị Nhung, Hồ Văn Thống, Bùi Đức Tú; các nghiên cứu của Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2010), Hoàng Ngọc Vinh (2010), Bùi Tôn Hiến (2010), Nguyễn Đức Trí và Phan Chính Thức (2010).

Khoảng trống nghiên cứu: Các công trình trong nước trước đây chủ yếu nghiên cứu giáo dục hướng nghiệp ở trường phổ thông, trung tâm kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp, hoặc chỉ dừng lại ở việc xây dựng phòng tư vấn, mô tả nghề đơn lẻ tại một số cơ sở. Chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện và có hệ thống về công tác quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong các trường dạy nghề gắn với các yêu cầu của thị trường lao động trên toàn bộ các khâu: quản lý đầu vào, quá trình đào tạo, đầu ra, các hình thức và giai đoạn hướng nghiệp.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án xây dựng cơ sở lý luận dựa trên việc xác lập hệ thống khái niệm, mô hình phân tích và phương pháp nghiên cứu cụ thể:

Khái niệm hướng nghiệp trong trường dạy nghề: Kế thừa quan niệm của Cao Văn Sâm và Mạc Văn Tiến, tác giả xác định: Hướng nghiệp trong trường dạy nghề là hệ thống các biện pháp tác động của nhà trường bao gồm hướng nghiệp trước đào tạo, hướng nghiệp trong quá trình đào tạo, hướng nghiệp sau đào tạo, được thực hiện liên tục nhằm giúp học sinh nhanh chóng thích ứng với nghề, an tâm với nghề đã chọn và hỗ trợ tìm việc làm phù hợp.

Dạy nghề và trường dạy nghề: Luận án căn cứ Luật Dạy nghề năm 2006, xác định đào tạo nghề gồm 3 trình độ: sơ cấp nghề (từ 3 tháng đến dưới 1 năm), trung cấp nghề (1 đến 2 năm với người có bằng THPT; 3 đến 4 năm với người có bằng THCS), cao đẳng nghề (2 đến 3 năm với người có bằng THPT; 1 đến 2 năm với người có bằng trung cấp nghề cùng ngành). Bối cảnh chuyển đổi kinh tế làm biến đổi mô hình dạy nghề:

Đặc trưng Mô hình cũ Mô hình mới
Nhu cầu đào tạo Dạy nghề theo khả năng cung Đào tạo theo nhu cầu
Mục tiêu đào tạo Dạy nghề cho việc làm Học nghề cho khả năng có việc làm
Tính chu kỳ Đào tạo một lần Đào tạo liên tục
Trung tâm quá trình Lấy giáo viên làm trung tâm Lấy người học làm trung tâm
Mối quan hệ giáo dục Giáo dục tách rời đào tạo Giáo dục và đào tạo tích hợp
Định hướng năng lực Đào tạo theo chuyên môn sâu Đào tạo sâu một nghề và biết nhiều nghề
Phương thức đánh giá Đánh giá qua thi học kỳ và thi tốt nghiệp Đánh giá quá trình kết hợp thi tốt nghiệp
Tuyển sinh và tốt nghiệp Điểm vào, điểm ra cố định Mềm dẻo, linh hoạt
Cơ chế phân công Dạy nghề theo biên chế nhà nước Dạy nghề lấy hoạt động lao động
Quản lý hệ thống Mang tính quan liêu Phân cấp, gắn với doanh nghiệp và thị trường
Hình thức đào tạo Tập trung chủ yếu chính quy Coi trọng cả chính quy và không chính quy
Trách nhiệm cung ứng Do nhà nước chịu trách nhiệm Chia sẻ trách nhiệm và theo thị trường
Nguồn lực đầu tư Do nhà nước quản lý, đầu tư Quản lý và đầu tư theo xã hội hóa

Nghề và nguyên tắc chọn nghề: Theo E. Climôp, nghề được phân định theo nghĩa rộng (nhóm chuyên môn gần nhau) và nghĩa hẹp (công việc trong phân công lao động xã hội). Luận án xác định 3 nguyên tắc chọn nghề: (1) Không chọn nghề bản thân không yêu thích; (2) Không chọn nghề bản thân không đủ điều kiện tâm sinh lý và xã hội để đáp ứng; (3) Không chọn nghề nằm ngoài quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Quy trình chọn nghề gồm 5 bước: chọn đối tượng lao động, xác định nghề tương ứng trong lĩnh vực nghề, thu nhỏ lĩnh vực hoạt động nghề, chọn nghề cụ thể trong nhóm, chọn trường đào tạo.

Quản lý và chức năng quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp: Dựa trên lý thuyết của Henri Fayol, V. Khuđôminxky, Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, tác giả định nghĩa: Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp là quá trình tác động có chủ đích, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến đối tượng được quản lý nhằm đảm bảo quá trình giáo dục hướng nghiệp cho học sinh học nghề, đạt mục tiêu nâng cao hiệu quả đào tạo của nhà trường. Năm chức năng quản lý được xác lập gồm: Kế hoạch, Tổ chức, Chỉ đạo, Kiểm tra và Thông tin.

Thị trường lao động và khung phân tích hướng nghiệp: Thị trường lao động được hiểu theo cách tiếp cận của ILO, WB, Leo Maglen (ADB), Nguyễn Hữu Dũng, Trần Khánh Đức, Đặng Văn Thành: là nơi diễn ra quan hệ trao đổi giữa cung lao động và cầu lao động, chịu sự chi phối của quy luật giá trị, cung - cầu và cạnh tranh. Luận án sử dụng mô hình "Tam giác hướng nghiệp" của nhà tâm lý học K. Platonov:

  • Ba cạnh: Yêu cầu của nghề cụ thể (tâm sinh lý, chống chỉ định y học) – Thị trường lao động (nhu cầu tuyển dụng) – Đặc điểm nhân cách của cá nhân (năng lực, sở trường).
  • Ba góc tiếp giáp: Định hướng nghề (giữa yêu cầu nghề và thị trường lao động) – Tư vấn nghề (giữa thị trường lao động và đặc điểm nhân cách) – Tuyển chọn nghề (giữa đặc điểm nhân cách và yêu cầu nghề).
  • Quá trình hướng nghiệp diễn ra qua 4 giai đoạn liên hoàn: Định hướng nghề, Tư vấn nghề, Tuyển chọn nghề, Thích ứng nghề.

Dữ liệu khảo sát thứ cấp được tác giả trích dẫn làm căn cứ thực tiễn:

  1. Số liệu của Trung tâm Dự báo nhu cầu nhân lực và thông tin thị trường lao động TP.HCM: 80% sinh viên tốt nghiệp tìm được việc làm (20% không tìm được việc hoặc làm thấp hơn trình độ); trong số có việc, chỉ 50% làm đúng năng lực, 50% làm trái nghề hoặc thu nhập thấp, không ổn định.
  2. Số liệu khảo sát của tổ chức GIZ về tình trạng việc làm sau tốt nghiệp 6 tháng của 5.897 học sinh trường dạy nghề:
Tình trạng việc làm sau 6 tháng Số lượng (học sinh) Tỷ lệ (%)
Có việc làm 3.876 65,73
Không có việc làm 2.021 34,27
Tổng cộng 5.897 100,0

Phân tích cơ cấu dạng việc làm của nhóm học sinh có việc và không tìm việc theo khảo sát GIZ:

Phân loại tình trạng Dạng việc làm cụ thể Số lượng (HS) Tỷ lệ (%)
Có việc làm (3.876 HS - 65,73%) Làm công ăn lương 3.673 62,29
Tự tạo việc làm 230 3,44
Không có việc làm / không tìm việc (2.021 HS - 34,27%) Đi học tiếp 915 15,52
Không tìm được việc 831 14,10
Khác (bệnh tật, gia cảnh...) 275 4,65

Phương pháp nghiên cứu của luận án:

  • Cách tiếp cận: Tiếp cận thị trường (gắn với cung - cầu nhân lực doanh nghiệp), tiếp cận hệ thống (xem giáo dục hướng nghiệp là hệ thống phức hợp đa khâu), tiếp cận lịch sử (kế thừa kinh nghiệm quản lý qua các giai đoạn).
  • Phương pháp lý luận: Phân tích, tổng hợp tài liệu, chính sách, báo cáo liên quan.
  • Phương pháp thực tiễn: Điều tra bằng bảng hỏi (phát phiếu khảo sát, phỏng vấn trực tiếp cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh); phương pháp chuyên gia (hội thảo, trao đổi với cán bộ quản lý, nhà khoa học); phương pháp thử nghiệm sư phạm (thực hiện tại Trường Cao đẳng nghề Kỹ thuật Công nghệ TP.HCM với lớp thử nghiệm và lớp đối chứng); phương pháp thống kê toán học (xử lý dữ liệu định lượng bằng phần mềm SPSS).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận của công tác quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong các trường dạy nghề

Chương 1 hệ thống hóa các vấn đề lý luận về nghề, chọn nghề, thị trường lao động và quản lý giáo dục hướng nghiệp. Tác giả phân tích tính tất yếu của việc thực hiện giáo dục hướng nghiệp trong trường dạy nghề, chỉ ra những đặc điểm khác biệt căn bản so với trường phổ thông: giáo dục hướng nghiệp ở trường nghề gắn chặt với quá trình đào tạo kỹ năng thực hành, thích ứng với vị trí việc làm cụ thể và đáp ứng tiêu chuẩn tuyển dụng của doanh nghiệp. Luận án làm rõ cấu trúc 5 chức năng quản lý giáo dục hướng nghiệp (lập kế hoạch, tổ chức bộ máy, chỉ đạo thực hiện, kiểm tra đánh giá và quản lý thông tin), phân tích cơ cấu tổ chức hoạt động hướng nghiệp và các yếu tố tác động (nhận thức xã hội, cơ chế chính sách, sự tham gia của thị trường lao động và nguồn lực nhà trường).

Chương 2: Thực trạng về quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong các trường dạy nghề

Chương 2 trình bày kết quả khảo sát thực trạng tại 7 trường cao đẳng nghề và trung cấp kỹ thuật. Nội dung khảo sát tập trung vào:

  • Thực trạng nhận thức: Mức độ hiểu biết và quan tâm của cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh về vai trò của giáo dục hướng nghiệp trong trường dạy nghề còn hạn chế, chưa đồng đều giữa các nhóm đối tượng.
  • Thực trạng triển khai các giai đoạn: Các trường chủ yếu tập trung vào khâu tuyển sinh (trước đào tạo) để đảm bảo chỉ tiêu số lượng, trong khi các hoạt động hướng nghiệp trong đào tạo (giáo dục lòng yêu nghề, rèn luyện tác phong công nghiệp, thích ứng nghề) và sau đào tạo (tư vấn việc làm, kết nối doanh nghiệp tuyển dụng) chưa được quan tâm tương xứng.
  • Thực trạng thực hiện các chức năng quản lý: Đánh giá chi tiết qua hệ thống bảng số liệu khảo sát về: mức độ cần thiết và mức độ thực hiện quản lý đầu vào hướng nghiệp; quản lý quá trình tiến hành hướng nghiệp; quản lý hệ thống công cụ, thiết bị hướng nghiệp; quản lý công tác kiểm tra, đánh giá; quản lý đầu ra; quản lý các giai đoạn và hình thức hướng nghiệp. Kết quả cho thấy khoảng cách lớn giữa nhận thức về "mức độ cần thiết" (đánh giá ở mức cao) và "mức độ thực hiện" (thực tế triển khai ở mức trung bình hoặc yếu).
  • Nguyên nhân của thực trạng: Chưa có phòng chức năng chuyên trách về hướng nghiệp; đội ngũ cán bộ làm công tác hướng nghiệp kiêm nhiệm, thiếu kỹ năng chuyên sâu; chưa thiết lập được cơ chế gắn kết chặt chẽ bốn bên (nhà trường - trường phổ thông - doanh nghiệp - đơn vị cung ứng lao động); công tác kiểm tra, đánh giá thiếu bộ tiêu chí đo lường cụ thể về mức độ đáp ứng thị trường lao động.

Chương 3: Một số giải pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong các trường dạy nghề đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động

Trên cơ sở định hướng phát triển trường dạy nghề và các nguyên tắc đề xuất, chương 3 thiết kế 5 giải pháp quản lý đồng bộ:

  • Giải pháp 1: Nâng cao nhận thức về giáo dục hướng nghiệp cho cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh ở các trường dạy nghề. Tổ chức bồi dưỡng lý luận hướng nghiệp, định hướng giá trị nghề nghiệp và cập nhật thông tin biến động của thị trường lao động.
  • Giải pháp 2: Tổ chức xây dựng phòng hướng nghiệp trong trường dạy nghề. Xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức, hệ thống cơ sở vật chất, họa đồ nghề và các công cụ trắc nghiệm, tư vấn tâm lý nghề nghiệp chuyên trách.
  • Giải pháp 3: Chỉ đạo thực hiện đồng bộ hoạt động giáo dục hướng nghiệp trước, trong và sau quá trình đào tạo trong các trường dạy nghề. Phân định rõ nội dung hướng nghiệp cho từng giai đoạn đào tạo nhằm giúp học sinh thích ứng và gắn bó với nghề.
  • Giải pháp 4: Xây dựng cơ chế phối hợp giáo dục hướng nghiệp bốn bên: Trường dạy nghề – Trường phổ thông – Doanh nghiệp – Tổ chức cung ứng lao động. Thiết lập dòng luân chuyển thông tin hai chiều về tiêu chuẩn kỹ năng, nhu cầu tuyển dụng và chương trình đào tạo.
  • Giải pháp 5: Triển khai đồng bộ các chức năng quản lý nội dung của hoạt động giáo dục hướng nghiệp. Xây dựng ma trận triển khai 4 chức năng quản lý (kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra) áp dụng trực tiếp cho từng nội dung hướng nghiệp.

Phần kiểm nghiệm đánh giá: Tác giả tiến hành thử nghiệm các giải pháp tại Trường Cao đẳng nghề Kỹ thuật Công nghệ TP.HCM trên các lớp thử nghiệm và lớp đối chứng. Sử dụng bảng hỏi khảo sát về mức độ cần thiết, mức độ khả thi và mức độ hợp lý của các giải pháp; đồng thời đo lường kết quả mức độ đáp ứng yêu cầu thị trường lao động giữa nhóm thử nghiệm và nhóm đối chứng bằng các kỹ thuật thống kê (tính tỷ lệ % và xử lý bằng phần mềm SPSS).

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận:

  • Bổ sung và phát triển khái niệm hướng nghiệp trong trường dạy nghề: xác định đây là hệ thống tác động liên hoàn ba giai đoạn (trước đào tạo, trong quá trình đào tạo và sau đào tạo).
  • Làm rõ bản chất khoa học của quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp theo nguyên lý tiếp cận thị trường; phân định rõ sự khác biệt giữa hướng nghiệp ở trường phổ thông và hướng nghiệp ở trường dạy nghề.
  • Vận dụng mô hình "Tam giác hướng nghiệp" của K. Platonov vào giáo dục nghề nghiệp, làm rõ các thành tố cấu thành mối quan hệ giữa yêu cầu của nghề, thị trường lao động và nhân cách học sinh.
  • Xây dựng khung lý luận về cơ chế liên kết phối hợp bốn bên (Trường dạy nghề – Trường phổ thông – Doanh nghiệp – Tổ chức cung ứng lao động) và ma trận tích hợp các chức năng quản lý nội dung hướng nghiệp.

Về mặt thực tiễn:

  • Phản ánh thực trạng công tác giáo dục hướng nghiệp và quản lý giáo dục hướng nghiệp tại 7 trường cao đẳng nghề, trung cấp kỹ thuật, chỉ rõ sự chênh lệch giữa mức độ nhận thức về tính cần thiết và mức độ thực hiện trong thực tế.
  • Khẳng định tính hiệu quả, tính khả thi và hợp lý của 5 giải pháp thông qua kiểm nghiệm sư phạm tại Trường Cao đẳng nghề Kỹ thuật Công nghệ TP.HCM; số liệu thống kê chứng minh nhóm lớp thử nghiệm có mức độ đáp ứng yêu cầu thị trường lao động cao hơn nhóm đối chứng.
  • Đề xuất các khuyến nghị cụ thể đối với cơ quan quản lý nhà nước về dạy nghề và ban giám hiệu các trường nghề trong việc ban hành văn bản chỉ đạo, thành lập phòng hướng nghiệp chuyên trách và phân bổ nguồn lực tổ chức hoạt động.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài (theo phạm vi nghiên cứu được công bố trong văn bản):

  • Phạm vi khảo sát thực trạng mới chỉ thực hiện tại 7 cơ sở giáo dục nghề nghiệp (chủ yếu là các trường cao đẳng nghề tại TP.HCM, Đồng Nai, Bình Thuận, Phú Yên, Hải Phòng, Vĩnh Phúc), chưa bao quát toàn bộ các vùng kinh tế trọng điểm trong cả nước.
  • Địa bàn kiểm nghiệm thử nghiệm giải pháp mới chỉ tổ chức tại một đơn vị duy nhất là Trường Cao đẳng nghề Kỹ thuật Công nghệ TP.HCM.
  • Khái niệm yêu cầu thị trường lao động trong đề tài được giới hạn tập trung vào yêu cầu của các nhà tuyển dụng (doanh nghiệp và tổ chức cung ứng lao động), chưa đi sâu vào toàn bộ các khía cạnh kinh tế vĩ mô khác của thị trường lao động.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng phạm vi khảo sát và thử nghiệm áp dụng các giải pháp quản lý giáo dục hướng nghiệp trên mạng lưới các trường trung cấp, cao đẳng nghề tại các vùng miền khác nhau.
  • Đi sâu nghiên cứu, chuẩn hóa hệ thống công cụ đánh giá, các bài trắc nghiệm tâm lý - sinh lý phù hợp với đặc thù từng nhóm nghề kỹ thuật công nghệ mới.

Giá trị tham khảo

Luận án cung cấp nguồn tư liệu học thuật và thực tiễn hữu ích cho các đối tượng:

  • Cán bộ quản lý các trường cao đẳng nghề, trung cấp nghề: tham khảo mô hình tổ chức phòng hướng nghiệp (Giải pháp 2), quy trình chỉ đạo hướng nghiệp trước - trong - sau đào tạo (Giải pháp 3), và ma trận quản lý chức năng nội dung hướng nghiệp (Giải pháp 5).
  • Cơ quan quản lý nhà nước về dạy nghề (Tổng cục Dạy nghề, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội các địa phương): tham khảo cơ sở khoa học để xây dựng cơ chế phối hợp bốn bên và ban hành các quy định chính sách về định mức, tiêu chuẩn nhân sự cho hoạt động hướng nghiệp trong trường nghề.
  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Quản lý giáo dục, Giáo dục học: tham khảo khung phân tích tam giác hướng nghiệp, phương pháp luận nghiên cứu kết hợp khảo sát thực trạng diện rộng và thử nghiệm sư phạm có đo lường thống kê.

Câu hỏi thường gặp

1. Khái niệm hướng nghiệp trong trường dạy nghề được tác giả luận án định nghĩa như thế nào? Tác giả luận án định nghĩa: Hướng nghiệp trong trường dạy nghề là hệ thống các biện pháp tác động của nhà trường bao gồm hướng nghiệp trước đào tạo, hướng nghiệp trong quá trình đào tạo, hướng nghiệp sau đào tạo, được thực hiện liên tục nhằm giúp cho học sinh nhanh chóng thích ứng với nghề, để họ an tâm với nghề đã chọn.

2. Luận án trích dẫn số liệu nào về tình trạng việc làm của học sinh sau tốt nghiệp trường nghề? Luận án dẫn chứng 2 nguồn dữ liệu: (1) Số liệu của Trung tâm Dự báo nhu cầu nhân lực và thông tin thị trường lao động TP.HCM: 80% sinh viên tốt nghiệp tìm được việc làm (20% rất khó tìm việc hoặc làm thấp hơn trình độ), nhưng trong số có việc chỉ 50% đúng năng lực, 50% làm trái nghề hoặc thu nhập thấp; (2) Số liệu khảo sát của tổ chức GIZ trên 5.897 học sinh trường nghề sau tốt nghiệp 6 tháng: có 3.876 học sinh có việc làm (chiếm 65,73%) và 2.021 học sinh không có việc làm (chiếm 34,27%). Trong số có việc, 62,29% làm công ăn lương và 3,44% tự tạo việc làm.

3. "Tam giác hướng nghiệp" của K. Platonov được vận dụng trong luận án gồm những yếu tố nào? "Tam giác hướng nghiệp" của K. Platonov gồm 3 cạnh: Cạnh 1 là Yêu cầu của nghề cụ thể (tâm sinh lý, chống chỉ định); Cạnh 2 là Thị trường lao động (nhu cầu nhân lực của doanh nghiệp, cơ sở sản xuất); Cạnh 3 là Đặc điểm nhân cách của cá nhân (năng lực, sở trường). Tương ứng ở 3 góc tiếp giáp là 3 hoạt động: Định hướng nghề (giữa yêu cầu nghề và thị trường lao động), Tư vấn nghề (giữa thị trường lao động và nhân cách cá nhân), Tuyển chọn nghề (giữa nhân cách cá nhân và yêu cầu nghề).

4. Luận án đề xuất những giải pháp quản lý cụ thể nào ở Chương 3? Luận án đề xuất 5 giải pháp quản lý:

  • Giải pháp 1: Nâng cao nhận thức về giáo dục hướng nghiệp cho cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh ở các trường dạy nghề.
  • Giải pháp 2: Tổ chức xây dựng phòng hướng nghiệp trong trường dạy nghề.
  • Giải pháp 3: Chỉ đạo thực hiện đồng bộ hoạt động giáo dục hướng nghiệp trước, trong và sau quá trình đào tạo trong các trường dạy nghề.
  • Giải pháp 4: Xây dựng cơ chế phối hợp giáo dục hướng nghiệp bốn bên: Trường dạy nghề – Trường phổ thông – Doanh nghiệp – Tổ chức cung ứng lao động.
  • Giải pháp 5: Triển khai đồng bộ các chức năng quản lý nội dung của hoạt động giáo dục hướng nghiệp.

5. Luận án tiến hành khảo sát thực trạng và thử nghiệm giải pháp tại những cơ sở giáo dục nào? Khảo sát thực trạng được thực hiện tại 7 trường: Trường Cao đẳng nghề Kỹ thuật Công nghệ TP.HCM, Trường Cao đẳng nghề Đồng Nai, Trường Cao đẳng nghề Công nghệ cao Đồng An, Trường Cao đẳng nghề Bình Thuận, Trường Cao đẳng nghề Phú Yên, Trường Cao đẳng nghề Bách nghệ Hải Phòng và Trường Trung cấp Kỹ thuật Vĩnh Phúc. Thử nghiệm giải pháp sư phạm được thực hiện tại Trường Cao đẳng nghề Kỹ thuật Công nghệ TP.HCM.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của Bùi Văn Hưng (2013) là công trình nghiên cứu chuyên sâu về quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong hệ thống các trường dạy nghề tại Việt Nam dưới góc độ đáp ứng các yêu cầu của thị trường lao động. Tác giả đã hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về phân luồng, tam giác hướng nghiệp và các chức năng quản lý, đồng thời đánh giá toàn diện thực trạng công tác hướng nghiệp trước, trong và sau đào tạo tại 7 cơ sở dạy nghề. Trên cơ sở đó, 5 giải pháp quản lý đồng bộ được đề xuất và kiểm nghiệm thực nghiệm thành công tại Trường Cao đẳng nghề Kỹ thuật Công nghệ TP.HCM, mang lại cơ sở khoa học và thực tiễn phục vụ nâng cao chất lượng đào tạo nghề gắn với nhu cầu sử dụng lao động của xã hội.