CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 1. CÁC NGHIÊN CỨU VỀ KỸ NĂNG CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC Nghiên cứu về kỹ năng của SV đại học trên thế giới và Việt Nam chủ yếu hướng vào kỹ năng cứng/kỹ năng kỹ thuật/ chuyên môn và kỹ năng mềm/ kỹ năng phi kỹ thuật/ kỹ năng chung. Kỹ năng chuyên môn liên quan đến chuyên ngành được đào tạo và kỹ năng mềm gồm nhiều kỹ năng xã hội và cá nhân liên quan đến phát triển bản thân và các tương tác xã hội. Ngay từ năm 1993, hội đồng quốc gia của Anh về trình độ chuyên môn của người lao động đã đề xuất KNCL bao gồm kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tính toán, kỹ năng công nghệ thông tin, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng phát triển tự học và thể hiện bản thân (Jenny Tizard, 1995, p.
62) Humburg và Velden (2013) nhấn mạnh rằng tất cả SV tốt nghiệp đều phải có kỹ năng để làm việc hiệu quả trong một lĩnh vực. Trong đó, kỹ năng chuyên môn và kỹ năng giao tiếp đóng vai trò nổi bật trong việc tạo điều kiện giao tiếp và hiểu biết giữa các thành viên trong nhóm. Xác định sự cân bằng giữa kỹ năng cốt lõi và kỹ năng chuyên môn là chìa khóa để phát triển một chương trình giảng dạy phù hợp cho giáo dục đại học. Abdyrov và cộng sự (2016) nghiên cứu phát triển kỹ năng tư duy hệ thống của người học thông qua các kỹ thuật bao gồm: (1) Phân tích các thành phần của một hệ thống cụ thể (Sách giáo khoa) để nghiên cứu sâu và sau đó tổng hợp, khái quá hóa, hệ thống hóa tạo ra mô hình hệ thống tri thức phản ánh về hệ thống đó.
(2) Phân tích các tài liệu học tập mở rộng, đặc tả, tổng hợp và hệ thống hóa thông tin, xây dựng mô hình thông tin, diễn giải mô hình, phản ánh và kết luận về mô hình. (3) Cấu trúc hệ thống, nghiên cứu đa dạng về đối tượng. (4) Xác định thứ bậc và mối quan hệ thứ bậc trong hệ thống. Mối quan hệ theo chiều dọc và mối quan hệ theo chiều ngang.
(5) Nghiên cứu động lực tiến hóa của hệ thống trong tương lai. (6) Nghiên cứu tính kết nối của hệ thống với các nghiên cứu trước đó. 8 (7) Nghiên cứu có hệ thống các tình huống cụ thể nhằm hiển thị các đặc điểm khác trong hệ thống. (8) Sử dụng nhiều phương pháp tiếp cận khác nhau.
(9) Sử dụng ba mức độ của tư duy hệ thống: Cấp thấp – cấp trung – cấp cao (10) Giám sát quá trình học tập theo phương pháp hệ thống (Abdyrov và cộng sự; 2016, pp. Theo Tounonen (2019) các kỹ năng chung, chẳng hạn như tư duy phản biện, hợp tác, giao tiếp, tranh luận, và kỹ năng giải quyết vấn đề, thường đề cập đến kỹ năng nhận thức và kỹ năng tư duy bậc cao, cũng như năng lực thế kỷ 21 và khả năng đọc viết của công dân tương lai. Học các kỹ năng chung được phổ biến rộng rãi được coi là mục tiêu chính của giáo dục đại học bên cạnh kiến thức và kỹ năng cụ thể theo lĩnh vực. Tầm quan trọng của các kỹ năng chung cũng đã được nhấn mạnh trong giai đoạn chuyển đổi sang công việc và sau này trong cuộc sống làm việc.
Do đó, các kỹ năng chung được coi là mục tiêu học tập trong hầu hết các chương trình giáo dục đại học hiện nay. Đề cập đến giáo dục đại học trong thế kỷ 21 đang trải qua nhiều thay đổi, sự thay đổi nhanh chóng của xã hội và công nghệ thông tin đã mang lại các biến đổi quan trọng trong hệ thống giáo dục. OECD (2019) cho rằng giáo dục và đào tạo đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo điều kiện cho thanh niên phát triển những kỹ năng này và cho phép họ khởi đầu tốt nhất trong cuộc sống. Các kỹ năng trở thành trọng tâm quan tâm của hệ thống giáo dục.
Các kỹ năng của thế kỷ 21 gồm tính sáng tạo và đổi mới, tư duy phản biện, giải quyết vấn đề, ra quyết định, giao tiếp, công nghệ thông tin. Elasawah, Ho và Ryan (2021) đã thiết kế khóa học để hình thành tư duy hệ thống cho SV ở bậc đại học. Trong khóa học, các khái niệm và các hoạt động thực hành tư duy hệ thống được chia thành 3 học phần: Hệ thống ngôn ngữ, Hệ thống phương pháp và Hệ thống thực hành. Mỗi học phần gồm các mô đun: (1) Giới thiệu sự phức tạp của vấn đề (2) Giới thiệu tư duy hệ thống (3) Hệ thống tư duy ngôn ngữ (4) Các tầng tư duy: sử dụng tảng băng tư duy (5) Cấu trúc vấn đề và xác định thông tin chi tiết (6) Xác định hệ thống quan điểm 9 (7) Sử dụng nguyên mẫu để tư duy về vấn đề phức tạp (8) Sử dụng sơ đồ lưu lượng để tư duy về các vấn đề vật lý Khóa học được thực hiện trong 1 học kỳ 15 tuần và tập trung vào dạy tư duy hệ thống độc lập trong các môn học.
Ở Việt Nam, Đỗ Khánh Năm (2016) nghiên cứu về rèn luyện kỹ năng thương lượng cho SV ngành quản trị nhân lực đã chỉ ra các con đường rèn luyện kỹ năng gồm: thông qua hoạt động dạy học, thông qua tổ chức hoạt động trải nghiệm lao động nghề nghiệp, thông qua hoạt động tập thể, thông qua tổ chức hoạt động xã hội, thông qua hoạt động tự rèn luyện của SV. Nguyễn Tuấn Khanh (2017), nghiên cứu về rèn luyện kỹ năng học tập cho SV trong đào tạo theo tín chỉ cho rằng rèn luyện kỹ năng học tập là quá trình tổ chức, triển khai việc hướng dẫn và luyện tập các hành động để thực hiện nhiệm vụ học tập theo một quy trình luyện tập hợp lý, chặt chẽ và được thực hiện nhiều lần nhằm hình thành và phát triển kỹ năng học tập đó từ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện, góp phần nâng cao thành tích học tập của người học và là nền tảng tạo nên năng lực tự học và học tập suốt đời. Nguyễn Kim Cương (2018) đề xuất 9 kỹ năng mềm cho SV trường nghề trên cơ sở phân tích vai trò của kỹ năng mềm đối với SV trường nghề theo quan điểm của Bộ lao động Hoa kỳ, Bộ phát triển nguồn nhân lực và kỹ năng Canada, Hội đồng kinh doanh Úc. Các kỹ năng mềm này gồm có kỹ năng giao tiếp, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng sáng tạo, kỹ năng lập kế hoạch, kỹ năng học tập suốt đời, kỹ năng quản lý bản thân, kỹ năng sử dụng công nghệ và kỹ năng an toàn lao động.
Tác giả cũng đưa ra một số biện pháp trang bị kỹ năng mềm cho SV trường Cao đẳng Giao thông Vận tải Trung ương VI như: Tích hợp chuẩn đầu ra kỹ năng mềm vào chương trình đào tạo cho SV, nâng cao nhận thức của GV, SV về tầm quan trọng của kỹ năng mềm, đổi mới tổ chức thực hiện phát triển kỹ năng mềm cho SV, tăng cường các nguồn lực cho hoạt động phát triển kỹ năng mềm cho SV và phát triển kỹ năng mềm cho SV thông qua thực tập tại doanh nghiệp. Nguyễn Đăng Minh (2018) bàn về xây dựng mô hình đào tạo và tự đào tạo kỹ năng cho SV đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp. Mô hình nhằm giải quyết mối quan hệ giữa đào tạo và tự đào tạo của Nhà trường và SV. Trong mối quan hệ này, tâm thế là nhân tố nền tảng để tiếp nhận và vận dụng tri thức mới.
10 Đánh giá về thực trạng kỹ năng mềm của sinh viên ở một số trường đại học tại TP. HCM, tác giả Huỳnh Văn Sơn đã nhận định 20 kỹ năng mềm có điểm trung bình rơi ở mức trung bình và mức khá của thang đo. Ba kỹ năng mềm có điểm trung bình ở mức khá là kỹ năng thuyết trình, kỹ năng thiết lập quan hệ xã hội và kỹ năng làm việc nhóm. Giữa ba nhóm ngành Kinh tế - Tài chính, Khoa học xã hội và nhân văn và Khoa học tự nhiên cũng có sự khác biệt.
Vị trí đứng đầu là nhóm ngành Khoa học tự nhiên, kế đến là nhóm ngành Kinh tế - Tài chính và cuối cùng là nhóm ngành Khoa học xã hội và Nhân văn (Huỳnh Văn Sơn, 2019). Trương Thị Diễm và Lê Văn Toán (2019) đã nghiên cứu một số kỹ năng cần thiết đối với SV các ngành công nghệ thông tin trong cuộc cách mạng công nghiệp 4. Các tác giả cho rằng để thành công trong nghề nghiệp SV phải hội tụ đủ các kỹ năng gồm kỹ năng chuyên môn và kỹ năng mềm. Kỹ năng chuyên môn nền tảng ngành là kỹ năng lập trình và kỹ năng mềm liên quan đến kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tư duy phản biện, kỹ năng sáng tạo và kỹ năng ngoại ngữ.
Bùi Đoan Trang (2019) cũng nghiên cứu về kỹ năng mềm của SV trường Đại học Công đoàn đã đưa ra 10 kỹ năng mềm cần thiết gồm: kỹ năng tự học, kỹ năng lãnh đạo, kỹ năng tư duy sáng tạo, kỹ năng lập kế hoạch, kỹ năng lắng nghe, kỹ năng thuyết trình, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng đàm phán. Kết quả khảo sát cho thấy, SV trường Đại học Công đoàn đánh giá kỹ năng tự học, kỹ năng thuyết trình và kỹ năng lắng nghe là những kỹ năng cần thiết đối với SV giúp SV tự tin hội nhập và phát triển trong tương lai. Nguyễn Duy Mộng Hà, Cao Thị Châu Thủy và Nguyễn Thị Vân Anh (2021) đã tìm hiểu về đánh giá của nhà tuyển dụng đối với kỹ năng của SV tốt nghiệp khối ngành khoa học xã hội nhân văn trong thời kỳ hiện nay và chỉ ra rằng 3 kỹ năng được yêu cầu cao nhất là kỹ năng thích nghi nhanh với công việc, kỹ năng giao tiếp và kỹ năng giải quyết vấn đề. Các kỹ năng tư duy, kỹ năng lập kế hoạch, kỹ năng ngoại ngữ, kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin được nhà tuyển dụng yêu cầu cao nhưng mức độ đáp ứng của SV lại rất thấp.
Đây là những kết quả cho thấy việc phát triển kỹ năng cho SV luôn là vấn đề mà nhà tuyển dụng rất quan tâm. Trần Thị Kim Chi (2022) nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động học tập kỹ năng mềm của SV trường Đại học Lạc Hồng trên 367 phiếu khảo sát và chỉ ra 6 yếu tố ảnh hưởng đến việc học tập kỹ năng mềm của SV gồm Chương trình đào tạo, Phương pháp giảng dạy, Đội ngũ giảng viên, Cơ sở vật chất, Cơ 11 chế chính sách, Môi trường rèn luyện.