Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA VẬT LÍ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO HƯỚNG PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH 1. Tổng quan về những vấn đề cần nghiên cứu Hoạt động ngoại khóa là một trong các hình thức dạy học có thể giúp HS đạt kết quả cao hơn trong học tập và góp phần hoàn thiện nhân cách cho các em. Chính vì vậy, hoạt động ngoại khóa ngày càng được trú trọng nghiên cứu và thực hiện không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều nước trên thế giới. Vật lí là môn khoa học thực nghiệm và là môn học bắt buộc ở nhà trường phổ thông của nước ta hiện nay.
Hoạt động ngoại khóa về vật lí cũng là một phần trong HĐNK ở trường phổ thông và đã được nghiên cứu từ lâu. Cho đến nay đã có một số đề tài đã nghiên cứu việc tổ chức HĐNK về vật lí cho HS như: “Phương pháp tổ chức hoạt động ngoại khóa vật lí”, Nguyễn Quang Đông, đề tài nghiên cứu khoa học, Đại học Thái Nguyên, năm 2006; “Nghiên cứu xây dựng và tổ chức một số chủ đề ngoại khoá phần Điện học lớp 12 (THPT) nhằm góp phần giáo dục kỹ thuật tổng hợp cho học sinh”, Trương Đức Cường, Luận văn Thạc sĩ giáo dục, Đại học Thái Nguyên, năm 2007; “Nghiên cứu tổ chức hoạt động ngoại khóa phần “Quang học” với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin nhằm phát huy tính tích cực cho học sinh THPT”, Mai Thị Vân Hải, Luận văn Thạc sĩ giáo dục, Đại học Thái Nguyên, năm 2008; “Nghiên cứu việc tổ chức hoạt động ngoại khoá về Tĩnh học vật rắn ở lớp 10 THPT nhằm phát huy tính tích cực và phát triển năng lực sáng tạo của học sinh”, Ngô Thị Bình, Luận văn Thạc sĩ giáo dục, năm 2009; “Nghiên cứu việc tổ chức hoạt động ngoại khoá về “Dòng điện không đổi” Vật lý lớp 11 (THPT) nhằm phát huy tính tích cực và phát triển năng lực sáng tạo của học 9 sinh”, Nguyễn Văn Hào, Luận văn Thạc sĩ giáo dục, Đại học Thái Nguyên, năm 2010; “Nghiên cứu tổ chức hoạt động ngoại khoá về “Dòng điện xoay chiều” Vật lý lớp 12 THPT Ban cơ bản”, Lục Văn Thái, Luận văn Thạc sĩ giáo dục, Đại học Thái Nguyên, năm 2011; “Tổ chức hoạt động ngoại khóa chương “Từ trường”ở lớp 11 theo hướng phát huy tính tích cực và năng lực sáng tạo của học sinh”, Tạ Hồng Sơn, luận văn Thạc sĩ giáo dục, Đại học Sư Phạm Hà Nội, năm 2012; “Tổ chức hoạt động ngoại khóa có nội dung ứng dụng kĩ thuật về cảm ứng điện từ vật lí 11 theo hướng phát huy tính tích cực và năng lực sáng tạo của học sinh”, Kiều Thanh Bắc, Luận văn Thạc sĩ giáo dục, Đại học Thái Nguyên, năm 2012; “Tổ chức hoạt động ngoại khóa về các kiến thức “Điện tích-Điện trường” - Vật lí 11 theo hướng phát huy tính tích cực, năng lực sáng tạo của học sinh”, Nguyễn Tiến Vinh, luận văn Thạc sĩ giáo dục, Đại học Sư Phạm Thái Nguyên, năm 2013. “Tổ chức hoạt động ngoại khóa các ứng dụng kĩ thuật của một số kiến thức chương “Các định luật bảo toàn” (Vật lí lớp 10) theo hướng phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh Trung tâm giáo dục thường xuyên”, Đặng Thị Hoa, luận văn Thạc sĩ giáo dục, Đại học Sư Phạm Thái Nguyên, năm 2014. Chúng ta nhận thấy rằng để phát huy tính tích cực, phát triển năng l ực s áng tạo của HS thì cần phải tổ chức và tạo điều kiện cho HS tích cực, sáng tạo giải quyết các vấn đề của thực tiễn.
Việc nghiên cứu về cơ sở lí luận cũng đã được bàn luận nhiều nhưng việc ứng dụng vào dạy kiến thức cụ thể của chương, cho từng đối tượng HS cụ thể thì chưa được thực hiện đầy đủ. Ví dụ như: chưa có đề tài nào nghiên cứu về việc tổ chức hoạt động ngoại khóa các ứng ứng dụng kĩ thuật của vật lí để phát huy tính tích cực, sáng tạo cho HS khi dạy chương “Khúc xạ ánh sáng” (vật lí 11) đối với đối tượng HS học ở trường THPT Sơn Dương. Chính vì vậy, tôi quyết định chọn hướng đề tài này: “Tổ chức hoạt động ngoại khóa về "Khúc xạ ánh sáng - Vật lí 11 theo hướng phát huy tính tích cực và phát triển năng lực sáng tạo của học sinh". Tính tích cực và năng lực sáng tạo của học sinh trong dạy học ngoại khóa Vật lí Hình thức dạy học ngoại khóa tạo nhiều điều kiện để HS phát huy được tính tích cực, năng lực sáng tạo của bản thân.
Để đánh giá hiệu quả của hoạt động ngoại khóa trong việc phát huy tính tích cực, năng lực sáng tạo của HS thì chúng ta cần nghiên cứu khái niệm và biểu hiện của chúng trong quá trình hoạt động. Tính tích cực a) Khái niệm về tính tích cực của HS trong học tập “Tích cực hóa là một tập hợp các hoạt động nhằm chuyển biến vị trí của người học từ thụ động sang chủ động, từ đối tượng tiếp nhận tri thức sang chủ động tìm kiếm tri thức để nâng cao hiệu quả học tập”. Tích cực học tập là một hiện tượng sư phạm biểu hiện ở sự cố gắng cao về nhiều mặt trong học tập. Học tập là một trường hợp riêng của nhận thức.
Vì vậy nói tới tích cực học tập thực chất là nói tới tính tích cực nhận thức. “Tính tích cực nhận thức là trạng thái hoạt động nhận thức của HS đặc trưng ở khát vọng học tập, sự cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình nắm vững kiến thức”. [25] Tính tích cực nhận thức vừa là mục đích hoạt động vừa là phương tiện, vừa là điều kiện để đạt được mục đích, vừa là kết quả của hoạt động. Tính tích cực nhận thức chính là phẩm chất, sự cố gắng của mỗi cá nhân.
Đối với HS đòi hỏi phải có những nhân tố tích cực lựa chọn thái độ đối với đối tượng nhận thức, đề ra cho mình mục đích, nhiệm vụ cần giải quyết sau khi đã lựa chọn đối tượng, cải tạo đối tượng trong hoạt động giải quyết các vấn đề sau này. Tính tích cực (TTC) của học sinh có mặt tự phát và mặt tự giác: [26, tr 269] - Mặt tự phát của TTC nhận thức là những yếu tố tiềm ẩn, bẩm sinh thể hiện ở tính tò mò, hiếu kỳ, hiếu động linh hoạt và sôi nổi trong hành vi mà ở trẻ đều có trong các mức độ khác nhau. 11 - Mặt tự giác của TTC là trạng thái tâm lý mà TTC có mục đích và đối tượng rõ rệt. Do đó có hoạt động để chiếm lĩnh đối tượng đó, thể hiện ở óc quan sát, tính phê phán trong tư duy, trí tò mò khoa học.
b) Những biểu hiện của tính tích cực trong học tập Tính tích cực của HS trong học tập nói chung và trong hoạt động ngoại khóa nói riêng được biểu hiện qua những dấu hiệu sau: [15] - HS tự nguyện tham gia vào hoạt động học tập. - HS sẵn sàng, hồ hởi đón nhận những nhiệm vụ mà GV giao cho. - HS tự giác thực hiện các công việc mình đảm nhận mà không cần sự đôn đốc, nhắc nhở của GV. - HS nêu thắc mắc, đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn đề mình chưa rõ.
- HS mong muốn được đóng góp ý kiến với thầy cô, với bạn bè những thông tin mới mẻ hoặc những kinh nghiệm có được ngoài sách vở, từ những nguồn khác nhau. - Hoàn thành công việc sớm hơn kế hoạch. - Xin nhận thêm nhiệm vụ để thực hiện… - HS thường xuyên trao đổi, tranh luận với bạn bè để tìm phương án giải quyết vấn đề, mong muốn được GV giúp đỡ, chỉ dẫn và khi gặp vấn đề khó khăn thì không nản chí. Những mức độ khác nhau của tính tích cực hoạt động nhận thức.
[26, Tr 471] - Tính tích cực tái hiện: Chủ yếu dựa vào trí nhớ và tư duy tái hiện, HS tích cực bắt chước GV và bạn bè. - Tính tích cực tìm tòi: HS tự tìm cách giải quyết các vấn đề đã nêu ra, thử nhiều cách khác nhau để giải quyết hợp lí vấn đề. - Tích cực sáng tạo: Là cấp độ cao nhất của tính tích cực của HS, có khả năng mang kiến thức đã biết vào một tình huống mới. Phát hiện những vấn đề mới trong tình huống đã biết.
HS khẳng định con đường của mình không giống như những con đường mà mọi người đã thừa nhận để đạt được mục đích. 12 Mức độ tích cực của HS phụ thuộc vào những yếu tố: - Vốn kiến thức của HS - Cách tổ chức hoạt động nhận thức của GV Những dấu hiệu thể hiện mức độ tích cực của HS - Thái độ tự giác của HS tham gia vào hoạt động nhận thức như thế nào? - Tích cực nhất thời hay thường xuyên liên tục? - Tích cực ngày càng tăng hay giảm dần? - Có kiên trì vượt khó hay không? Nguyên nhân của tính tích cực nhận thức: Tính tích cực nhận thức của HS nảy sinh trong quá trình học tập nhưng nó lại là kết quả của nhiều nguyên nhân, có nguyên nhân hình thành từ quá khứ, thậm chí từ lịch sử lâu dài của nhân cách. “Tính tích cực nhận thức phụ thuộc vào những nhân tố sau: Hứng thú, nhu cầu, động cơ, năng lực, ý chí, sức khoẻ, môi trường…” [26]. Trong đó hứng thú là nhân tố được các thầy, cô quan tâm nhất vì: + Nó có thể hình thành ở HS một cách nhanh chóng và bất kì lúc nào trong quá trình dạy học.
+ Có thể gây hứng thú cho HS ở mọi lứa tuổi. + Điều quan trọng hơn cả là nó nằm trong tầm tay của người thầy. Người thầy có thể điều khiển hứng thú của HS qua các yếu tố của quá trình dạy học: Nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức qua các bước lên lớp như mở bài, bài giảng mới, củng cố, vận dụng, kiểm tra kiến thức và trong cả mối quan hệ của thầy và trò. Những biểu hiện trên là căn cứ để chúng tôi đánh giá hiệu quả hoạt động ngoại khóa chương “Khúc xạ ánh sáng” mà chúng tôi sẽ tổ chức đối với sự phát huy tính tích cực của HS.
c) Các biện pháp phát huy tính tích cực nhận thức của HS Phát huy tính tích cực nhận thức không phải là vấn đề mới. Từ thời cổ đại các nhà sư phạm tiền bối như Khổng Tử, Aristot đã từng nói đến tầm 13 quan trọng to lớn của việc phát huy tính tích cực chủ động của HS và đã nói lên nhiều biện pháp, phát huy tính tích cực nhận thức.