CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Từ giữa thế kỉ XIX, ở Pháp đã xuất hiện cuốn sách “Hướng dẫn chọn nghề” mà nội dung chủ yếu là vấn đề phát triển đa dạng của nghề nghiệp do sự phát triển công nghiệp và việc nhất thiết phải giúp đỡ thanh niên trong sự lựa chọn nghề nghiệp. Sau cải cách giáo dục (GD) năm 1975, các nhà trường ở Pháp đều chú trọng đến GDHN qua dạy môn Công nghệ, coi trọng việc chuẩn bị cho học sinh (HS) tâm lí sẵn sàng đi vào lao động.
Việc đưa bộ môn Công nghệ vào trường học được thể hiện rõ nhất trong công trình khoa học “Những vấn đề nội dung giáo dục trong nhà trường Pháp”. Đến nay, ở Pháp đã có nhiều công trình khoa học của các tác giả ở Viện nghiên cứu Quốc gia về lao động và hướng nghiệp Pari như Anne Lancry-Hoest Land, Resgis Ouvrier-Bonnaz, Renne-Pierre Halter, các tác giả đã nhấn mạnh đến môi trường học đường, thị trường lao động, vai trò to lớn của các trung tâm HN trong công tác tổ chức GDHN cho học sinh và thanh, thiếu niên. Đầu thế kỷ 20, ở Mỹ, Anh, Pháp, Thụy Điển đều xuất hiện cơ sở dịch vụ hướng nghiệp. Ở Nga, những thập kỉ đầu thế kỉ 20, công tác hướng nghiệp rất được chú trọng, làm cơ sở để phát triển nguồn nhân lực phục vụ nền công nghiệp hóa đất nước bấy giờ.
Tư vấn hướng nghiệp được hầu hết các quốc gia trên thế giới quan tâm, trong nửa đầu thế kỉ 20, do tăng trưởng nền công nghiệp hóa, nhiều tác giả Keller và Viteles, 1937; Watts, 1966; Super, 1974 đề cập đến tác phẩm Parson ở Hoa Kì trong những năm 1900, tác phẩm của Lahy trong lựa chọn nhân sự ở Pháp năm 1910; nỗ lực của Gemelli trong lựa chọn nhân sự ở Ý năm 1912, và sự tập trung vào hướng nghiệp của Christianen ở Bỉ năm 1911,1912 và những tác phẩm tiên phong ở Genneva và London năm 1914 và 1915 do Reuchlin miêu tả (1964) những nỗ lực ban đầu trong thiết lập tư vấn và hướng nghiệp ở Hoa Kì và Châu Âu [16]. Tại Hoa Kì, chương trình “GD nghề nghiệp” đã được đưa vào các cấp học phổ thông. Chương trình này đã tạo điều kiện cho học sinh được tham gia vào các quá trình công nghệ để giải quyết các vấn đề thực tế của đất nước. 5 Hệ thống giáo dục ở Hoa Kì, ngay từ bậc Tiểu học (từ lớp 1 đến lớp 6), học sinh đã bắt đầu làm quen với thế giới nghề nghiệp ở những mức độ khác nhau, đặc biệt là đối với các nghề phổ biến trong cuộc sống hàng ngày như thợ máy, bán hàng, lái xe, nhân viên bưu điện, dạy học… Các em được giới thiệu, mô tả và quan sát thực tế các nghề phổ biến, bước đầu hình thành những yêu cầu đơn giản của các loại hình lao động.
Ở bậc Sơ trung (từ lớp 7 đến lớp 9), chương trình được nâng cao dần, học sinh được tham gia lao động trong các cơ sở sản xuất và dịch vụ ở địa phương, từ đó những kiến thức cụ thể được hình thành trong các thói quen, kĩ năng lao động chung. Đến cuối lớp 9, học sinh được chuẩn bị kĩ càng hơn để theo học các nhóm nghề ở trình độ ban đầu. Ở bậc Cao trung (từ lớp 10 đến lớp 12), học sinh được phân luồng theo 3 hướng chính: hướng phổ thông, hướng lên ĐH, CĐ và hướng thực hành. Hướng thực hành thực chất là đào tạo nghề trong các loại hình trường ở bậc Trung học.
Sự phân luồng theo hướng này là sự gia tăng số công nhân lành nghề ở Hoa Kì. Hệ thống trường phổ thông ở Đức rất chú trọng đến nguyên tắc GDHN, chuẩn bị cho học sinh bước vào trường đào tạo nghề tuỳ theo trình độ và năng lực học tập của mỗi học sinh. Hệ thống giáo dục của Đức tạo ra sự phân luồng học sinh dựa theo khả năng cá nhân từ rất sớm. Đến bậc THCS học sinh được phân luồng học trong các loại hình sau: loại hình thứ nhất là các trường trung học (từ lớp 5 đến lớp 9) Hauptschule, dẫn tới chứng chỉ tốt nghiệp Hauptschule và sau đó vào học bán thời gian (part-time) trong các trường nghề kết hợp với việc rèn nghề đến năm 18 tuổi.
Những nghề được dạy là kinh tế gia đình, may, thủ công, cơ khí, sử dụng máy tính, vẽ, kĩ thuật… Ở Liên bang Nga, hướng nghiệp được thực hiện nhằm mục tiêu đảm bảo quyền tự chọn nghề của học sinh, giúp các em tự thể hiện nhân cách trong điều kiện quan hệ thị trường, tôn trọng hứng thú nghề nghiệp của con người, chỉ rõ nhu cầu của thị trường lao động, không ngừng nâng cao trình độ thạo nghề của cá nhân như là điều kiện quan trọng nhất để thoả nguyện yêu cầu phát triển của con người trong lao động. Nhật Bản sớm quan tâm giải quyết tốt mối quan hệ giữa học vấn văn hoá phổ thông với kiến thức và kĩ năng lao động - nghề nghiệp ở tất cả các bậc học. Có khoảng 27,9% số trường phổ thông trung học vừa học văn hoá phổ thông vừa học các môn học kĩ thuật thuộc các lĩnh vực cơ khí, ngư nghiệp, công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ… Sau cấp II có đến 94% học sinh vào cấp III, trong đó 70% học sinh theo học loại hình trường phổ thông cơ bản và 30% học sinh theo hướng học nghề. Tại Hàn Quốc, trong các loại hình trường phổ thông, nội dung giảng dạy kĩ thuật - lao động là một bộ phận cấu thành quan trọng trong chương trình giáo dục.
Hết cấp II, 6 học sinh sẽ đi theo hai luồng chính: phổ thông và chuyên nghiệp. Các trường kĩ thuật nghề nghiệp tuyển sinh trước rồi mới chọn học sinh theo luồng phổ thông. Tại Singapore, ở bậc trung học, học sinh được phân theo 3 luồng: luồng bình thường, luồng khá giỏi và luồng học nghề. Học sinh ở luồng bình thường sẽ học 5 năm, học sinh ở luồng khá giỏi sẽ học trong 4 năm và học sinh ở luồng học nghề sẽ học trong 5 năm nhưng theo một chương trình chú trọng về học nghề kĩ thuật hơn là văn hoá.
Kết thúc trung học sẽ là kỳ thi lấy chứng chỉ GCE’O’ Levels, là chứng chỉ theo hệ thống giáo dục Anh nhưng có thể thay đổi phù hợp với Singapore. Sau đó học sinh có thể lựa chọn: Những học sinh có đủ khả năng sẽ học tiếp hai năm dự bị thi ĐH lấy chứng chỉ “A” Levels và vào ĐH. Những học sinh còn lại có thể vào các trường dạy nghề kĩ thuật (Institute of Technical Education) hay các trường CĐ kĩ thuật (Polytechnic). Hệ thống giáo dục có sự phân luồng tương đối sớm, các loại hình đào tạo công nghệ - kĩ thuật được phát triển mạnh, hệ thống văn bằng chứng chỉ có thể so sánh tương đương của các nước Anh, Mĩ và đảm bảo chuẩn mực quốc tế.
Theo tổ chức UNESCO, nếu coi học tập là quá trình liên tục kéo dài suốt cả cuộc đời, thì phải nhìn nhận lại cả nội dung và cách tổ chức giáo dục trung học. Sự phát trìển như vũ bảo của cách mạng khoa học kĩ thuật và công nghệ đòi hỏi một thị trường lao động lớn. Hiện nay trên toàn thế giới, số lượng học sinh trung học tăng nhanh, nhưng ở một số nước thuộc châu Mĩ Latinh, số lượng học sinh tăng hằng năm lại tỉ lệ thuận với số học sinh lưu ban, bỏ học. UNESCO cho rằng, ở những nước này, cần phải có những giải pháp tiên quyết và đồng bộ nhằm huy động các lực lượng xã hội tham gia vào công tác giáo dục, mà đặc biệt là GDHN để phân luồng học sinh từ đầu cấp THCS.
Các nghiên cứu ở Việt Nam Công tác GDHN ở Việt Nam đã được đề cập rất rõ trong Nghị quyết số 14- NQ/TW ngày 11 tháng 01 năm 1979 của Ban tổ chức Trung ương về cải cách GD. Từ đó đến nay, công tác GDHN luôn được thể hiện trong các văn kiện của Đảng và từng bước được phát triển theo hướng “cập nhật” những kiến thức mới, xu hướng phát triển của xã hội và thực tiễn của đất nước. Từ cuối những năm 70 của thế kỉ XX, các công trình khoa học của các nhà Tâm lí học, GD học, Xã hội học đã tiếp cận nghiên cứu nhiều vấn đề về GDHN cho học sinh phổ thông ở nhiều khía cạnh khác nhau: Tác giả Phạm Minh Hạc phân tích tình hình GD&ĐT ở nước ta. Tác giả đã đưa ra quan điểm về con người trong công cuộc đổi mới, đó là “ưu tiên việc giáo dục nghề 7 nghiệp”, đây cũng là quan điểm của GDHN sau này.
Các tác giả Phạm Tất Dong, Đặng Danh Ánh, Đoàn Chi đã nghiên cứu về hứng thú, khuynh hướng nghề nghiệp của học sinh và xây dựng chương trình hướng nghiệp chính khoá cho học sinh phổ thông. Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu như: Giáo dục lao động -kĩ thuật tổng hợp và hướng nghiệp trong trường phổ thông và nhà trường phổ thông với việc giáo dục kĩ thuật tổng hợp- hướng nghiệp và dạy nghề của tác giả Nguyễn Trọng Bảo; vấn đề giáo dục nghề trong trường phổ thông và giáo dục lao động - kĩ thuật nghề nghiệp ở các cấp học của bậc THPT và những vấn đề cấp bách cần giải quyết của tác giả Đoàn Chi; hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông của tác giả Đặng Danh Ánh; một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục kĩ thuật và hướng nghiệp ở trường THCS và THPT trong thời gian tới của tác giả Nguyễn Viết Sự; về công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông hiện nay của Nguyễn Toàn… Tác giả Nguyễn Văn Hộ với các công trình khoa học: Thiết lập và phát triển hệ thống hướng nghiệp cho học sinh Việt Nam (1988), cơ sở sư phạm của công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông, hoạt động GDHN và giảng dạy kĩ thuật trong trường THPT (2006) đã nhấn mạnh việc hình thành các luận chứng cho hệ thống hướng nghiệp phổ thông trong điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và đề xuất một số hình thức phối hợp giữa nhà trường phổ thông với các cơ sở đào tạo nghề, cơ sở sản xuất trong việc hướng nghiệp - dạy nghề cho HS phổ thông.