CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC GIỚI TÍNH CHO HỌC SINH TẠI CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC 1. Tổng quan các nghiên cứu về vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Vấn đề giới tính và GDGT được con người quan tâm nghiên cứu đã từ rất lâu. Từ thời Cổ đại, giới tính là đề tài bị coi là ghê tởm và không được phép đề cập trực tiếp.
Dấu tích về giới tính và những hoạt động liên quan đến GDGT không hề được lưu lại trên hài cốt được khai quật vì vậy nó đặt ra nhiều thách thức đối với giới khảo cổ. Những mô tả về giới tính dường như vắng bóng trong các hiện vật văn hóa và chỉ được khắc họa bằng hình vẽ, tuy nhiên ý nghĩa của nó lại chủ yếu được diễn giải theo suy luận của con người hiện đại. Muốn xác định rõ thông điệp mà cộng đồng cổ đại nhắn nhủ qua các hình ảnh này, giới khoa học chỉ còn cách dựa vào nguồn văn chương cổ. Tuy nhiên, vấn đề càng thêm phức tạp khi các ghi chép văn chương dường như không mang tính đại diện cho toàn xã hội mà chỉ xuất phát từ góc nhìn riêng của tác giả.
Tất cả sự thiếu thốn thông tin khiến hiểu biết về giới tính cổ đại vẫn còn là một đề tài nhiều tranh cãi. Cho đến khi có sự xuất hiện của bộ môn Giải phẫu và Sinh học thì công tác nghiên cứu các vấn đề về giới tính và GDGT mới thật sự được tiến hành.Vào cuối thế kỉ XVIII, đầu thế kỉ XIX, các đề tài về giới tính được các nhà hoa học như là J.Mac Lenan Anh , E. Wetermach Phần Lan), Lewis Henry Morgan (Mỹ), X. Đầu thế kỉ XX, xuất hiện một số quan điểm sinh học về vấn đề giới tính, những nghiên cứu về giới tính và tình dục phát triển mạnh nhằm GDGT trên cơ sở khoa học.
Vào năm 1926, tại Hà Lan nhà khoa học T.Van de Velde đã cho ra đời cuốn “Hôn nhân hiện đại”. Đây là cuốn sách khoa học hiện đại đầu tiên về sinh lí học trong hôn nhân, nó đã góp phần nâng cao vị trí của người phụ nữ trong gia đình và đòi hỏi quyền bình đẳng của họ [13]. Tại Mỹ, các vấn đề về tình dục và giới tính được quan tâm nghiên cứu vào những năm 1921. Đã có nhiều nhà khoa học tham gia nghiên cứu về lĩnh vực này, tiêu biểu là H.Kingsey cùng các đồng nghiệp của mình.Johnson tiếp tục nghiên cứu công trình này và công bố kết quả vào năm 1966 [13].
Cho đến nay, chương trình GDGT tại Mỹ được phân theo các cấp học. Tuy nhiên không có một chương trình giáo dục quốc gia cụ thể mà quyết định GDGT được trao cho các bang và quận. Bên cạnh đó, GDGT tại gia đình cũng được phụ huynh đặc biệt quan tâm. 5 Thuỵ Điển là một trong những quốc gia tiên phong trong việc GDGT cho trẻ em.
Những chương trình GDGT cho HS đã được Thuy Điển triển khai từ năm 1942. Một trong số đó là “Giáo dục phòng tránh thai”- chương trình GDGT đầu tiên được công nhận tại một trường học. “Giáo dục phòng tránh thai” được đưa vào giảng dạy cho trẻ em từ 7 tuổi trở lên nhằm trang bị cho các em những kiến thức cơ bản về mang thai và sinh con. Khi lên bậc TH, các HS sẽ được học về đặc tính sinh lý của nam và nữ.
Năm 1966, Thụy Điển đã chính thức đưa “Giáo dục phòng tránh thai” và nhiều hoạt động khác về GDGT lên truyền hình, phá vỡ sự ngại ngùng cho phụ huynh khi trò chuyện với con em về vấn đề này [13]. Tại Hà Lan, GDGT được đưa vào giảng dạy từ rất sớm. Thậm chí, trẻ em bậc TH ở nước này còn được học những bài học về tôn trọng những người chuyển đổi giới tính, lưỡng tính hay đồng tính. Bên cạnh đó, chủ đề GDGT được các gia đình đề cập đến rất thường xuyên trong những lúc quây quần bên nhau.
Có lẽ nhờ PP giáo này mà Hà Lan luôn được ca ngợi là một trong những quốc gia đi đầu về GDGT. Hà Lan còn được đánh giá là đất nước có tỉ lệ trẻ mang thai ở độ tuổi VTN thấp nhất trên thế giới (khoảng 0,5%)[13]. Ở châu Á, chương trình GDGT ở các nước cũng đang có các mức độ rất khác nhau. Các quốc gia như Indonesia, Mông Cổ, Hàn Quốc cũng có những chính sách về giảng dạy giới tính tại trường học.
Malaysia, Philippines và Thái Lan thiên về giáo dục sức khoẻ sinh sản trong khi Ấn Độ lại có chương trình với mục tiêu hướng tới trẻ em từ 9 tới 16 tuổi. Tại Singapore, tất cả các cấp học đều có chương trình GDGT của Bộ giáo dục. Tại cấp TH, trẻ em được dạy về việc phát triển cơ thể và cách xây dựng các mối quan hệ lành mạnh. Tại TH và sau đó, HS được dạy về sức khỏe và hành vi tình dục cũng như cách phòng tránh bệnh lây qua đường tình dục [13].P MA-SƠ-LÔ-VA (Tiệp Khắc đã nghiên cứu các vấn đề về giới tính cho rằng: "Nhiều người trong chúng ta biết rằng không nên để con cái phải tự lần mò tìm hiểu lấy chuyện tình dục, song lại không biết hướng dẫn, tác động, không biết khi nào cần nói và nói như thế nào.
Thế hệ trẻ ngày nay khác rất xa thế hệ chúng ta. Vì vậy, phải dẫn dắt họ theo kiểu khác.”, “Mục đích của toàn bộ chương trình giáo dục tình dục từ tuổi ấu thơ tới tuổi trưởng thành không chỉ là trang bị kiến thức, xây dựng ý thức tình dục mà điều quan trọng là xây dựng những quan niệm đúng đắn về vai trò, trách nhiệm của người đàn ông và phụ nữ trong cuộc sống vợ chồng, trong gia đình và trong xã hội" [dẫn theo 22]. Các công trình nghiên cứu trên đã tiếp cận giới tính và GDGT ở một số khía cạnh như: đạo đức giới tính liên quan đến đạo đức xã hội, liên quan đến nghĩa vụ, trách nhiệm về mối quan hệ giữa con người với con người trong gia đình, xã hội GDGT nhằm chuẩn bị cho nam nữ vào đời sống hạnh phúc gia đình và cuộc sống hôn nhân. Một số nước như Thụy Điển lại áp dụng GDGT qua truyền hình; Ở Mỹ, GDGT được phân theo các cấp học.
Đối với Hà Lan, GDGT được giảng dạy ở bậc TH. Các 6 công trình nghiên cứu này là tài liệu tham khảo để tác giả triển khai nghiên cứu cơ sở lý luận về GDGT cho HS ở các trường TH với các nội dung như mục tiêu, nguyên tắc GDGT, nội dung và hình thức, PP GDGT. Các nghiên cứu trong nước Vào những năm cuối của thế kỉ XX, giáo dục Việt Nam còn chịu nhiều ảnh hưởng của văn hóa truyền thống, đặc biệt là truyền thống phương Đông đã ăn sâu và làm ảnh hưởng đến tâm lý của nhiều bậc phụ huynh, họ coi giới tính là vấn đề nhạy cảm, là vùng“cấm địa” không được chia sẻ với con. Trong khi đó, GDGT trong nhà trường cũng chưa thật sự phù hợp với sự phát triển tâm, sinh lý sớm của HS, nội dung vẫn còn chung chung, không thiết thực.
Các thầy cô giáo và các tổ chức xã hội thì không được trang bị đầy đủ kiến thức về giới tính để có thể giáo dục và chia sẻ với các em. Chính những lỗ hổng đó đã làm cho HS Việt Nam thiếu hụt một cách trầm trọng kiến thức về giới tính và để lại những hậu quả vô cùng đáng tiếc [13]. Tuy nhiên, sau khi chỉ thị 176A ngày 24 tháng 12 năm 1984 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nêu rõ: “Bộ Giáo dục, Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Tổng cục dạy nghề phối hợp với các tổ chức liên quan xây dựng chương trình chính khóa và ngoại khóa nhằm bồi dưỡng HS những kiến thức khoa học về giới tính, về hôn nhân gia đình và nuôi dạy con cái” thì công tác GDGT cho HS, sinh viên được nhà trường, các cơ quan và các tổ chức chính trị - xã hội quan tâm rộng rãi. Từ năm 1985, nhiều nội dung, khía cạnh của hoạt động GDGT được các nhà khoa học như là Trần Trọng Thuỷ, Bùi Ngọc Oánh, Lê Nguyên, Phạm Ngọc, Minh Đức, Đặng Xuân Hoài.
đầu tư nghiên cứu. Sau khi các công trình được công bố đã góp phần làm cơ sở cho hoạt động GDGT tại Việt Nam [30]. Ngày 4 tháng 8 năm 2 8, Thủ tướng Chính phủ đã ra Chỉ thị Số 23/2008/CT- TTg “Về việc tiếp tục đẩy mạnh công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình”. Chỉ thị đã chỉ rõ nhiệm vụ của bộ GD&ĐT là triển khai có hiệu quả hoạt động GD dân số, sức khỏe sinh sản, giới và giới tính trong và ngoài nhà trường.
Chính vì vậy cần tập trung xây dựng, quy hoạch và phát triển đội ngũ CBQL, GV ở các trường và những người trực tiếp tham gia GDGT có đủ phẩm chất và trình độ chuyên môn vững vàng nhằm nâng cao cao chất lượng GDGT nói riêng và chất lượng giáo dục Việt Nam nói chung. Ngày 22 tháng 11 năm 2 19 Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định Phê duyệt Chiến lược Dân số Việt Nam đến năm 2 3 , trong đó chỉ rõ nhiệm vụ của Bộ Giáo dục và đào tạo trong giai đoạn tới là chủ trì, phối hợp với Bộ Y tế và các bộ, ngành liên quan đổi mới nội dung, PP giáo dục dân số, sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục, giới, bình đẳng giới và giới tính theo định hướng của Chiến lược [4]. Ngoài ra, còn nhiều tác giả, nhiều công trình nghiên cứu về những vấn đề liên đến giới tính như là: đề tài luận văn tốt nghiệp: “Tìm hiểu sự nhận thức và quan tâm của HS THPT về các vấn đề giới tính” của Nguyễn Văn Phương 1994 ; đề tài luận văn thạc sĩ: “Thực trạng việc quản lý GDGT cho HS ở các trường TH tại huyện Thuận 7 An, Tỉnh Bình Dương và một số giải pháp” của Đỗ Hà Thế Bình (2007); luận văn thạc sĩ luật học: “Bình đẳng giới trong pháp luật hôn nhân- gia đình Việt Nam” của Nguyễn Thị Hoàng Giang (2014);luận án tiến sĩ: “Quyền của người đồng tính, song tính, chuyển giới và liên giới tính theo pháp luật Việt Nam hiện nay” của Trương Hồng Quang (2019). Lý Thị Mai nghiên cứu về tâm lý học giới tính và giáo dục học giới tính đã xác định các đặc điểm của giới và giới tính, những nội dung cần quan tâm trong GDGT cho HS [25].
Nguyễn Thanh Thủy đã trình bày cơ chế quá trình hình thành giới, các PP xét nghiệm để chẩn đoán xác định giới tính trong trường hợp mơ hồ về giới tính và đề xuất nội dung GDGT cho thanh thiếu niên [13].