CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TIẾNG ANH TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu ở nước ngoài Tiến sĩ Raya Roy Singh, nhà giáo dục nổi tiếng ở Ấn Độ, chuyên gia giáo dục nhiều năm ở UNESCO khu vực Châu Á-Thái Bình Dương có có một lời bình khá ấn tượng về tầm quan trọng của đội ngũ giáo viên trong bối cảnh giáo dục đi vào thế kỷ XXI: “Giáo viên giữ vai trò quyết định trong giáo dục và đặc biệt trong việc định hướng lại giáo dục”. Vì thế, nâng cao chất lượng giáo viên được xem là khâu đột phá, trọng tâm của công cuộc đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đặc biệt là giáo dục phổ thông.
Giáo viên được coi như yếu tố then chốt của cải cách, đổi mới giáo dục. Bởi lẽ, không có thầy giỏi về năng lực chuyên môn và phẩm chất đạo đức tốt thì không thể có nền giáo dục chất lượng. Điều đó đòi hỏi phải có những giải pháp để tháo gỡ, phát triển năng lực nghề nghiệp của giáo viên để đáp ứng tốt nhất chương trình giáo dục phổ thông mới. Nói về việc giảng dạy Tiếng Anh trong trường học, Jeremy Harmer – chuyên gia giảng dạy Tiếng Anh hàng đầu thế giới đã đi sâu nghiên cứu về phương pháp giảng dạy Tiếng Anh cũng như việc đào tạo giáo viên dạy Tiếng Anh.
Ông từng tổ chức nhiều hội thảo trên khắp thế giới về phương pháp dạy Tiếng Anh. Theo ông, người dạy Tiếng Anh cho dù được đào tạo bài bản vẫn phải luôn học hỏi và sắp xếp tham gia những khóa đào tạo giáo viên phù hợp với năng lực, sở trường của mình để đáp ứng tốt hơn cho việc giảng dạy.425] Đặc biệt tác giả Susan Haliwell đã giới thiệu những phương pháp hiệu quả để giảng dạy Tiếng Anh cho học sinh Tiểu học trong tác phẩm Teaching English in the Primary Classroom. Bên cạnh đó, tác giả Penny Ur đã nghiên cứu về phương pháp và kinh nghiệm trong việc giảng dạy ngôn ngữ. Theo ông, người giáo viên khi tốt nghiệp trường sư phạm chỉ là một sự khởi điêm, chỉ mới đạt được điều kiện cần ban đầu để giảng dạy.
Thâm niên giảng dạy không quyết định hiệu quả và sự tiến bộ trong nghề nghiệp. Để đạt được kinh nghiệm và sự chuyên nghiệp, người giáo viên thành công phải không ngừng học hỏi và trang bị thêm cho mình kiến thức bổ sung trong suốt quãng đời dạy học [15, tr. Nhận định của ông đã nhấn mạnh đến một trong những năng lực đặc biệt của một nhà quản lý chính là năng lực học tập suốt đời và phát triển bản thân. Năm 1995, tác phẩm dạy và học hướng tới một xã hội học tập (Teaching and Learning towards the Society) đã khuyến khích thế hệ trẻ học ít nhất hai ngoại ngữ của cộng đồng.
“everyone should be proficient in two Community foreign languages”. 5 Theo những thống kê trong Sách trắng của Ủy ban Châu Âu cho thấy, đối với cấp tiểu học tại các nước Châu Âu, tiếng Anh vẫn là một ngoại ngữ được chọn học nhiều nhất. Tùy vào tình hình từng quốc gia mà tỉ lệ học sinh chọn học môn ngoại ngữ tiếng Anh có những sự khác nhau khá nhiều. Ở Bồ Đào Nha có đến 93% trong tổng số học sinh tiểu học chọn học môn tiếng Anh trong khi tỉ lệ học sinh học tiếng Anh ở Tây Ban Nha là 71%.
Tỉ lệ này tại Áo là 56%, Thụy Điển là 62% và Phần Lan là 63%. Tỉ lệ khá thấp khoảng 20% đối với các nước Đông Âu cũ” [18, tr. Trong một nghiên cứu gần đây, Graddol khảo sát tình hình giảng dạy tiếng Anh bậc TH ở 8 nước trong khu vực gồm Singapore, Philippines, Thái Lan, Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Indonesia và Việt Nam. Kết quả nghiên cứu về GV dạy Tiếng Anh cho bậc TH ở các nước trong khu vực được đào tạo và tuyển dụng không giống nhau.
Ở Singapore, Philippines, Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan GV TH phụ trách một lớp và dạy tất cả các môn cho lớp đó kể cả Tiếng Anh. GV đứng lớp TH ở các nước này (trừ Nhật Bản) được đào tạo để dạy bậc TH, trong chương trình đào tạo có môn tiếng Anh. Nghiên cứu ở trong nước Ở Việt Nam, nhiều tác giả đã nghiên cứu về quản lý nhà trường, quản lý hoạt động dạy học cũng như về quá trình giảng dạy bộ môn Tiếng Anh như: Hà Sĩ Hồ (1987) với “Những bài giảng về quản lý trường học”, Trần Kiểm (1997) “Những vấn đề cơ bản của khoa học quản lý giáo dục”, Nguyễn Văn Lê (1985) “Khoa học quản lý nhà trường” … Có nhiều công trình đi sâu vào việc nghiên cứu từng lĩnh vực công tác quản lý trường học như: Cao Duy Bình (1999) “Kế hoạch hóa hoạt động nhà trường”, Vũ Trọng Rỹ (2004) với “Quản lý cơ sở vật chất – thiết bị dạy học ở nhà trường phổ thông”, Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2009), “Đại cương khoa học quản lý giáo dục, Bài giảng cho cao học quản lý giáo dục, Hà Nội; NXB Đại học quốc gia Hà Nội”, Đặng Quốc Bảo (2010), “Những vấn đề về lãnh đạo- quản lý và sự vận dụng vào điều hành nhà trường, Bài giảng cho học viên cao học quản lý giáo dục”. Hiện nay, có khá nhiều học viên làm luận văn tốt nghiệp cao học Quản lý giáo dục đã chọn đề tài nghiên cứu thuộc lĩnh vực quản lý hoạt động dạy học Tiếng Anh như: “Quản lý hoạt động dạy học Tiếng Anh ở các trường Tiểu học thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế” của tác giả Lê Thị Thùy Linh, năm 2019; “Quản lý hoạt động dạy học Tiếng Anh ở các trường Tiểu học quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả nguyễn Trường Giang năm 2015; “ Quản lý hoạt động dạy học Tiếng Anh ở các trường trung học cơ sở huyện Tây Giang, Quảng Nam” của tác giả Hồ Thị Tâm năm 2020.
Ngoài các luận văn trên thì tạp chí, bài báo, báo cáo khoa học có nhiều bài viết về vấn đề DHTA như: “Nâng cao kĩ năng nói tiếng Anh của sinh viên chất lượng cao ngành Quốc tế học, Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Đà Nẵng để đáp ứng chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo của nhóm tác giả: Lưu Quý Khương, Phạm Đăng Hà 6 Diệp, Đỗ Thị Trường Linh, Trương Tố Nhi; “QLDHTA THPT theo hướng tiếp cận năng lực người học” của nhóm tác giả Trần Xuân Bách, Nguyễn Thanh Thạch (2017); “GD đại học Việt Nam trong giai đoạn hội nhập” của tác giả Nguyễn Quang Giao (2010)… và rất nhiều các hội thảo, hội nghị chuyên đề, cho đến các lớp bồi dưỡng chuyên môn bàn về vấn đề đổi mới phương pháp dạy học PPDH, các biện pháp QL nhằm nâng cao chất lượng DHTA trong tình hình hiện nay. Nói tóm lại, có nhiều tác ở Việt Nam cũng như ở nước ngoài đã nghiên cứu và đưa ra nhiều biện pháp quản lý hoạt động dạy học ở nhà trường trong đó có bộ môn Tiếng Anh. Tuy nhiên trong lĩnh vực quản lý việc giảng dạy bộ môn Tiếng Anh bậc Tiểu học ở từng địa phương cụ thể thì chưa có nhiều tác giả đề cập nghiên cứu. Các khái niệm chính 1.
Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường 1. Quản lý Xét về từ ngữ, thuật ngữ “quản lý" (tiếng Việt gốc Hán) có thể hiểu là hai quá trình tích hợp vào nhau; quá trình "quản" là sự coi sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái "ổn định"; quá trình “ lý" là sửa sang, sắp xếp, đổi mới để đưa tổ chức vào thế “phát triển”. Nếu người đứng đầu tổ chức chỉ lấy việc “quản” làm chính thì tổ chức dễ trì trệ, ngược lại nếu chỉ quan tâm đến “lý” thì sự phát triển của tổ chức không bền vững. Trong Tiếng Anh cũng có một số thuật ngữ có nghĩa quản lý hoặc tương tự.
Chẳng hạn như, thuật ngữ “management” được sử dụng nhiều nhất với nghĩa quản lý. Ngoài ra còn có thuật ngữ “administration”. Về cơ bản hai thuật ngữ này đều được dùng với nghĩa quản lý, tuy nhiên thuật ngữ “managemant” được coi là thuật ngữ ngầm chứa những nội dung rộng hơn, đề cập đến cấp độ cao trong việc đưa ra quyết định của người quản lý, trong khi đó thuật ngữ “administration” còn thường được dùng để chỉ quản lý trong các tổ chức công lập, công quyền và thậm chí cấp chính phủ. Nhìn chung, thuật ngữ “quản lý” có thể được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau tuỳ thuộc vào góc độ nghiên cứu của những ngành khoa học khác nhau.
Tuy nhiên, xét riêng trong lĩnh vực hành chính, có thể hiểu quản lý là thuật ngữ chỉ “Hoạt động có ý thức của con người nhằm sắp xếp, tổ chức, chỉ huy, điều hành, hướng dẫn, kiểm tra.các quá trình xã hội và hoạt động của con người để hướng chúng phát triển phù hợp với quy luật xã hội, đạt được mục tiêu xác định theo ý chí của nhà quản lý với chi phí thấp nhất”. [1] Theo tác giả Trần Kiểm thì “Quản lý là các hoạt động được thực hiện nhằm đảm bảo sự hình thành công việc qua nỗ lực của người khác. Hay: Quản lý là công tác phối hợp có hiệu quả các hoạt động của những người cộng sự khác nhau cùng chung một tổ chức” [11, tr.12,13] Theo tác giả Nguyễn Văn Bình, “QL là một nghệ thuật đạt được mục tiêu đã đề ra thông qua việc điều khiển, phối hợp, hướng dẫn, chỉ huy HĐ của những người khác”.35] 7 Hay như với tác giả Vũ Văn Dân và Vơ Nguyên Du cho rằng “ Quản lý là tác động của chủ thể quản lý vào đối tượng quản lý trong một tổ chức (hay một hệ thống xã hội) với những phương pháp vừa có tính khoa học vừa có tính nghệ thuật, nhằm đạt mục tiêu riêng của các đối tượng trong tổ chức.9] Ngoài ra, theo Ferdrick Winslow – ông được coi là cha đẻ của thuyết quản lý khoa học. Ông cho răng “Quản lý là biết chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng học đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất, rẻ nhất”.
Vậy “Hoạt động quản lý vừa có tính khách quan vừa có tính chủ quan vì được thực hiện bởi người quản lý. Mặt khác, nó vừa có tính giai cấp lại vừa có tính kỹ thuật, vừa có tính khoa học vừa có tính nghệ thuật, vừa có tính pháp luật nhà nước lại vừa có tính xã hội rộng rãi… Chúng là những mặt đối lập trong một hệ thống. Đó là biện chứng, là bản chất của quản lý”. Quản lý giáo dục Dưới những góc nhìn khác nhau, các tác giả đã đưa ra những khái niệm khác nhau về quản lý giáo dục.