CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC 1. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC VÀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC HỌC SINH Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐĐ là một hình thái ý thức XH được hình thành và phát triển theo sự phát triển của XH loài người bao gồm những nguyên tắc, qui định, chuẩn mực nhằm định hướng con người tới các chân - thiện - mỹ, chống lại cái giả, cái ác, cái xấu,. ĐĐ nảy sinh do nhu cầu đời sống XH, là sản phẩm của lịch sử XH, do cơ sở KT - XH quyết định. Từ xa xưa, ĐĐ và GDĐĐ cho con người nói chung và HS nói riêng đã trở thành vấn đề được quan tâm và đánh giá cao.
Chính vì vậy, nhiều công trình nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước đã đưa ra các mô hình GDĐĐ và quản lý GDĐĐ phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của từng giai đoạn phát triển. Các nghiên cứu về hoạt động giáo dục đạo đức học sinh ở nước ngoài ĐĐ là vấn đề được các nhà tư tưởng và triết học đề cập đến từ lâu, được XH mọi thời đại ở phương Tây lẫn phương Đông quan tâm và coi trọng. Ở phương Đông nhà triết học, nhà GD lớn của Trung Quốc là Khổng Tử đã đề cao đường lối đức trị và lễ trị quốc dân an, phát triển đất nước với quan điểm bồi dưỡng người có “đức nhân”, người “quân tử” có đủ phẩm cách và năng lực thi hành “đạo lớn”. Ông coi Nhân là gốc rễ của các đức khác, các đức tụ cả ở Nhân.
Khổng Tử cho rằng: “Điều mình không muốn thì đừng làm cho kẻ khác”. Làm người phải biết sửa mình “Không nhìn cái không hợp Lễ, không nghe cái không hợp Lễ, không nói điều không hợp Lễ, không làm việc không hợp Lễ” [12, tr. Ở phương Tây, Nhà triết học Socrates coi cái gốc của ĐĐ là tính thiện, ĐĐ và sự hiểu biết quy định lẫn nhau, tức là có ĐĐ là nhờ sự hiểu biết và con người sau khi có hiểu biết mới trở thành ĐĐ. Chú trọng ĐĐ của Socrates là tri thức và ĐĐ là một nghĩa, là muốn sống có tri thức về nhận thức là sống nhân đức [12, tr.
7 Aristoste cho rằng thượng đế không áp đặt để có công dân hoàn thiện về ĐĐ, mà việc phát hiện nhu cầu trên trái đất mới tạo nên được con người hoàn thiện trong quan hệ ĐĐ [12, tr. Petxtalôdi, một trong những nhà GD tiêu biểu của thế kỷ XIX, đã đánh giá rất cao vai trò của GDĐĐ. Ông cho rằng nhiệm vụ trung tâm của GD là GDĐĐ cho trẻ em trên cơ sở chung nhất là tình yêu về con người. Tình yêu ấy bắt nguồn từ GĐ, trước hết là đối với cha mẹ, anh chị em rồi đến bạn bè và mọi người trong XH [34, tr.Mác, người sáng lập ra chủ nghĩa cộng sản khoa học, cho rằng: “Con người phát triển toàn diện sẽ là mục đích của nền GD cộng sản chủ nghĩa và con người phát triển toàn diện là con người phát triển đầy đủ, tối đa năng lực sẵn có về tất cả mọi mặt ĐĐ, trí tuệ, thể chất, tình cảm, nhận thức, năng lực, óc thẩm mỹ và có khả năng cảm thụ được tất cả những hiện tượng tự nhiên, XH xảy ra chung quanh,.
Vào thế kỷ XX, nhà sư phạm A. Macarenco của Liên Xô với tác phẩm “Bài ca sư phạm” đã đề cập đến vấn đề GD công dân. Trong tác phẩm này ông đã nhấn mạnh đến vấn đề GDĐĐ thông qua nhiều phương pháp như phương pháp nêu gương, GD bằng tập thể và thông qua tập thể [12, tr. Các nhà nghiên cứu trên thế giới quan niệm rằng nội dung GDĐĐ cần tập trung đào luyện những phẩm chất cơ bản của nhân cách như tính trung thực, tinh thần trách nhiệm, tinh thần hợp tác,.
Do đó, GDĐĐ là một phương tiện không thể thiếu để giúp mọi người hình thành và phát triển nhân cách. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy vai trò của thầy giáo, cô giáo là hết sức quan trọng trong việc GDĐĐ ở tất cả các cấp học và được các quốc gia quan tâm đặc biệt. Các nghiên cứu về hoạt động giáo dục đạo đức học sinh ở Việt Nam Ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đầu tiên tiếp thu những quan điểm ĐĐ Mác - Lênin và thật sự làm một cuộc cách mạng trên lĩnh vực ĐĐ. Người gọi đó là ĐĐ mới: ĐĐ Cách mạng: “ĐĐ đó không phải là ĐĐ thủ cựu, nó là ĐĐ 8 mới, ĐĐ vĩ đại, nó không phải là danh vọng của cá nhân mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người” [35, tr.
Hồ Chí Minh đã dạy: “ĐĐ là cái gốc của ngừời cách mạng. ĐĐ cũng phải là cái gốc của con ngừời phát triển toàn diện mà NT có trách nhiệm ĐT. Do đó, công tác GD tư tưởng chính trị và ĐĐ phải giữ vị trí then chốt trong NT. Công tác GDĐĐ tốt sẽ là cơ sở để nâng cao chất lượng GD toàn diện, vì thế ĐĐ có quan hệ mật thiết với các mặt GD khác”; “Trong GD không những phải có tri thức phổ thông mà phải có ĐĐ cách mạng.
Có tài phải có đức. Có tài mà không có đức, tham ô hủ hóa có hại cho nước. Có đức mà không có tài như ông bụt ngồi trong chùa, không giúp ích gì được cho ai,. Người coi trọng mục tiêu, nội dung GDĐĐ trong các NT như: “Đoàn kết tốt”, “Kỷ luật tốt”, “Khiêm tốn, thật thà dũng cảm”, “Con người cần có bốn đức: cần - kiệm - liêm - chính, mà nếu thiếu một đức thì không thành người” [15, tr.
Hồ Chí Minh là tấm gương sáng ngời về ĐĐ cách mạng, là mẫu mực kết tinh tất cả những phẩm chất tốt đẹp nhất của người Việt Nam với ĐĐ Cộng sản cao quý của chủ nghĩa Mác - Lênin. Những tư tưởng ĐĐ cũng như tấm gương ĐĐ của Hồ Chí Minh là một bộ phận quan trọng trong hệ thống di sản tư tưởng của Người. Cho nên, có thể nói toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh gắn liền với quá tŕnh phát triển tư tưởng ĐĐ và việc xây dựng nền ĐĐ cách mạng mà Người là tấm gương tiêu biểu, sinh động và trong sáng nhất của nền ĐĐ cách mạng đó. Trong di chúc thiêng liêng của Hồ Chỉ Minh, vấn đề đầu tiên Người viết là con người.
Rõ ràng đối tượng trung tâm trong sự nghiệp xây dựng nền văn hoá mới là xây dựng con người mới. Con người nói ở đây là mỗi một con người Việt Nam, là con người trong GĐ, trong XH, là người công dân của nước nhà, nói rộng ra là con người trên hành tinh của chúng ta. Cho nên chiến lược con người là chiến lược số một. “Muốn xây dựng chủ nghĩa XH, trước hết phải có con người XH chủ nghĩa” [1, tr.
Trong những năm gần đây, kế thừa tư tưởng của Người, vấn đề GDĐĐ cho con người Việt Nam cũng được các nhà GD học quan tâm nghiên cứu. Nhiều giáo 9 trình ĐĐ được các tác giả đề cập đến ý nghĩa mục tiêu, vị trí vai trò, nội dung phương pháp và một số vấn đề về QL công tác GDĐĐ. Tiêu biểu như “Giáo trình ĐĐ” của Trần Đăng Sinh - Nguyễn Thị Thọ; tác phẩm “Đạo hiếu - nhân cách của con người Việt Nam” của Phạm Khắc Chương; “Những vấn đề GDĐĐ trong điều kiện KT thị trường ở nước ta” của Nguyễn Quang Uẩn và Nguyễn Văn Phúc; “Phương pháp GD cho trẻ em hư” của Phạm Công Sơn - Tô Quốc Tuấn (1997),. Phạm Minh Hạc, nhà nghiên cứu GD hàng đầu ở Việt Nam đã nêu lên các định hướng giá trị ĐĐ con người Việt Nam trong thời kỳ CNH - HĐH đất nước và nêu lên 6 giải pháp cơ bản GDĐĐ cho con người Việt Nam: “Tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức GDĐĐ trong các trường học, củng cố tư tưởng GD ở GĐ và cộng đồng, kết hợp chặt chẽ với GD nhà trường trong việc GDĐĐ cho con người, kết hợp chặt chẽ GDĐĐ với việc thực hiện nghiêm chỉnh luật pháp của các cơ quan thi hành pháp luật; tổ chức thống nhất các phong trào thi đua yêu nước và các phong trào rèn luyện đạo ĐĐ, lối sống cho toàn dân, trước hết cho cán bộ đảng viên, cho thầy cô các trường học; xây dựng một cơ chế TC và chỉ đạo thống nhất toàn XH về GDĐĐ, nâng cao nhận thức cho mọi người ” [17, tr.
Tại Hội thảo “GDĐĐ cho HS, sinh viên ở nước ta hiện nay, thực trạng và giải pháp” do Hội Khoa học tâm lý GD Việt Nam tổ chức tại Đồng Nai năm 2009, Phạm Minh Hạc phát biểu: “Yếu tố quyết định là ý thức tự GD thực sự nghiêm khắc, sự phấn đấu hướng thiện của từng cá nhân, nhất là của HS, kết hợp chặt chẽ GDĐĐ trong NT với GĐ và ngoài XH, GDĐĐ cho tuổi trẻ, đặc biệt là HS, sinh viên đã và đang trở thành nhiệm vụ cấp bách, nhiệm vụ hàng đầu của các GĐ, NT và toàn XH” [16, tr. Ngoài các công trình nghiên cứu nói trên thì có rất nhiều đề tài nghiên cứu các biện pháp QL hoạt động GDĐĐ ở các cấp học, cụ thể: Đề tài “QL hoạt động GDĐĐ cho HS các trường Trung học phổ thông ở thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang” của Lê Hữu Nghị; Đề tài: “QL hoạt động GDĐĐ cho HS ở Trung tâm Giáo dục thường xuyên và Kỹ thuật hướng nghiệp tỉnh Đồng Tháp” của Nguyễn Hoàng 10 Đông; Đề tài “GDĐĐ thông qua hoạt động ngoại khóa cho học sinh trung học cơ sở ở thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang” của tác giả Dương Kiếm Anh; Đề tài: “Thực trạng QL hoạt động GDĐĐ cho HS ở các trường tiểu học huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh ” của Phạm Thị Kim Thủy; Đề tài: “Thực trạng QL hoạt động GDĐĐ cho HS ở các trường trung học cơ sở huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long” của Trần Văn Tân. Qua nghiên cứu những quan điểm về GDĐĐ của các nước trên thế giới và các đề tài, những công trình nghiên cứu của các nhà khoa học ở Việt Nam, cho thấy những nét khái quát về đặc trưng, nhiệm vụ, phạm trù, chức năng của vấn đề GDĐĐ, QL hoạt động GDĐĐ cho HS là rất cần thiết. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.
Quản lý, giáo dục, quản lý giáo dục, quản lý trường học 1. Quản lý Theo Từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê, Nhà xuất bản Đà Nẵng, năm 2000 (chỉnh sửa thứ hai): “QL là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” [29, tr.