Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC 1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Trong sự phát triển nền giáo dục của mỗi nước, đồng thời với việc cập nhật thông tin khoa học, công nghệ vào nhà trường, còn cần phải quan tâm đến định hướng giáo dục giá trị đạo đức và nhân văn cho thế hệ trẻ. Vấn đề đạo đức của thế hệ trẻ không chỉ là vấn đề của một đất nước, mà là vấn đề mang tính toàn cầu của thời đại, là điều kiện quan trọng để bảo vệ sự sống còn và tương lai của loài người.
Các nhà tư tưởng, triết học của xã hội phương Đông lẫn phương Tây đã hết sức được coi trọng vấn đề giáo dục đạo đức. Ở phương Đông, Khổng Tử (551 - 479 TCN), nhà triết học lớn, nhà giáo dục lớn của Trung Quốc đã khai sinh ra Nho giáo với quan điểm bồi dưỡng người có “đức nhân”, người “quân tử” có đủ phẩm cách và năng lực thi hành “đạo lớn”. Ông đã viết tác phẩm bất hủ “Dịch, Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Xuân Thu”, trong đó rất xem trọng việc giáo dục đạo đức. Quan niệm về đức của Khổng Tử có nhiều ý tưởng sâu sắc và phong phú thể hiện lòng tin ở tính thiện của con người và chủ trương bồi dưỡng, phát huy thiện đức của con người, làm cơ sở cho đường lối đức trị của mình.
Ở phương Tây, Nhà triết học Socrates (470-399 TCN) đã cho rằng đạo đức và sự hiểu biết quy định lẫn nhau. Có được đạo đức là nhờ sự hiểu biết, do vậy chỉ sau khi có hiểu biết mới trở thành có đạo đức. Nhà triết học Aristotle (384 -322 TCN) là một trong ba trụ cột của văn minh Hi Lạp cổ đại, là những người đặt nền móng cho triết học phương Tây cho rằng thượng đế không áp đặt để có công dân hoàn thiện về đạo đức, mà việc phát hiện nhu cầu trên trái đất mới tạo nên được con người hoàn thiện trong quan hệ đạo đức. Ông khẳng định: “Trước tiên học đạo đức rồi sau đó học tri thức, không có đạo đức, tri thức khó thành đạt”.
Từ thời cổ đại Hi Lạp, Đêmôcrit là người đầu tiên đưa phạm trù nghĩa vụ vào đạo đức học. Ông cho rằng ý thức nghĩa vụ là động cơ sâu kín bên trong con người, 7 là động lực thúc đẩy con người hành động (Nguyễn Hữu Hợp và Lưu Thu Thủy, 2007). Ở Liên Xô, nhà giáo dục học Makarenco.C đại diện cho nền giáo dục đương đại, đã nhấn mạnh đến vai trò của giáo dục đạo đức và các biện pháp giáo dục đúng đắn như sự nêu gương, “giáo dục trong tập thể và giáo dục bằng tập thể” trong tác phẩm “Bài ca sư phạm”, các vấn đề giáo dục người công dân (giáo dục trẻ em phạm pháp và không gia đình). Ông kết luận “Nhiệm vụ giáo dục của chúng ta nói tóm lại là giáo dục tập thể”.
Điều đó có nghĩa là hình thành nhận thức, tình cảm, hành vi, thói quen tập thể; là góp phần tạo ra nhân sinh quan XHCN, bộ mặt đạo đức chủ yếu của con người mới XHCN để phân biệt với con người của giai cấp bóc lột- con người ích kỷ, cá nhân (Phạm Minh Hạc, 1986). Quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lê Nin: Những quy tắc, chuẩn mực đạo đức được xã hội thừa nhận, đó là ý thức xã hội. Nó chi phối đời sống đạo đức của các cá nhân trong xã hội. Ý thức xã hội được các cá nhân tiếp nhận chuyển hóa thành ý thức cá nhân, được cá thể hóa và thể hiện ra thông qua hành vi đạo đức, dưới những biểu hiện: cảm xúc, tình cảm, động cơ, ham muốn, niềm tin, hành động đạo đức… (Nguyễn Thị Mỹ Lộc và Nguyễn Quốc Chí, 1996).
Một trong các nhà duy vật Pháp thế kỉ XVII-XVIII, Hônbách cho rằng: “Nghĩa vụ đạo đức là cái tất yếu đối với tất cả mọi người thực hiện trách nhiệm của mình. Cái đó không tách rời hạnh phúc của họ” (Nguyễn Hữu Hợp và Lưu Thu Thủy, 2007). Nhìn chung, hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh đã được các nhà nghiên cứu nước ngoài coi trọng và đã xác định tầm quan trọng của nó trong sự phát triển đất nước. Các nghiên cứu ở trong nước Ở nước ta, tư tưởng giáo dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh, anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới, Người coi đạo đức cách mạng ở mỗi con người là kết quả của sự rèn luyện trong thực tế, trong đấu tranh một cách bền bỉ thường xuyên.
Người căn dặn: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu 8 tranh rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển củng cố, cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong” (Vũ Ngọc Khánh, 1999). Pháp luật là đạo đức tối thiểu, đạo đức là pháp luật tối đa. Thực hiện chuẩn mực đạo đức là nhu cầu xã hội cao, đòi hỏi chủ thể tính tích cực, tự nguyện, không vụ lợi.
Nếu không thực hiện sẽ bị dư luận xã hội lên án, bị hổ thẹn và cắn rứt lương tâm. Đạo đức và pháp luật cùng có chức năng điều chỉnh hành vi, hướng con người tới điều thiện, chính nghĩa và giá trị sống tốt đẹp. Nhưng phương thức thực hiện khác nhau: Đạo đức điều chỉnh bằng sức mạnh của dư luận xã hội, phong tục tập quán, sự tự nguyện, tự giác của chủ thể. Pháp luật điều chỉnh bằng sức mạnh cưỡng chế của bộ máy chuyên chính, đòi hỏi chủ thể phải thực hiện nghĩa vụ bằng pháp lí (Nguyễn Thị Mỹ Lộc và Nguyễn Quốc Chí, 1996).
Sự phát triển của thời đại đã làm thay đổi hệ thống giá trị nói chung và hệ thống giá trị đạo đức và nhân văn nói riêng. Điều đó đòi hỏi con người phải trang bị những giá trị đạo đức và nhân văn có tính phổ quát để trở thành con người nhân văn- nhân bản- nhân ái; Con người công dân có bản sắc riêng, có cá tính, con người có trình độ khoa học và công nghệ, có năng lực nghề nghiệp, tay nghề cao; Con người cá nhân có tính độc lập tự chủ, tự giác, năng động, có tinh thần hợp tác, có khả năng thích ứng cao, biết giữ chữ tín và thăng tiến. Con người là nguồn vốn quốc gia quan trọng nhất. Trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển.
Sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đòi hỏi phát triển con người toàn diện, hài hòa, cân đối trí lực, đức và tài, phát triển cá nhân và đời sống tinh thần phong phú, phát triển một cách tự do, đầy đủ, làm chủ và thích ứng. Theo Phạm Minh Hạc cũng đã phác thảo nhân cách con người Việt Nam thích ứng với công nghiệp hóa, hiện đại hóa: “Con người có lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc, có năng lực tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại; có ý chí kiên cường, có hoài bão lớn lao và phát huy tiềm năng của dân tộc; có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân; có tư duy sáng tạo và óc thực nghiệm; có kĩ năng thực hành giỏi, tay nghề cao; có tác phong công nghiệp; có tính tổ chức và kỉ 9 luật, có tinh thần trách nhiệm cao, có lòng nhân ái; tôn trọng và hợp tác được với người khác; có sức khỏe, có khả năng tự hoàn thiện không ngừng, năng động và thích ứng; có tinh thần pháp luật và ý thức công dân, ý thức bảo vệ môi sinh, biết yêu cái đẹp. Giáo dục đạo đức thể hiện ở các công trình như "Giáo trình đạo đức" của Trần Đăng Sinh - Nguyễn Thị Thọ; tác phẩm “Đạo hiếu- nhân cách của con người Việt Nam” của Phạm Khắc Chương; “Những vấn đề giáo dục đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta” của Nguyễn Quang Uẩn và Nguyễn Văn Phúc. Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo của Đảng về Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã xác định: “Đổi mới giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh.
Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lí tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kĩ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn”. Mục tiêu chương trình giáo dục tiểu học giúp học sinh hình thành và phát triển những yếu tố căn bản đặt nền móng cho sự phát triển hài hòa về thể chất và tinh thần, phẩm chất và năng lực; định hướng chính vào giáo dục về giá trị gia đình, quê hương, cộng đồng và những thói quen, nề nếp cần thiết trong học tập và sinh hoạt. Để nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức trong thời kỳ đổi mới, một số tác giả đã nghiên cứu về quản lí hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh phổ thông điển hình: Phạm Minh Huệ nghiên cứu “Quản lí hoạt động giáo dục đạo đức học sinh ở trường THPT Thành phố Thái Bình”đã đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ học sinh tại các trường THPT Thành phố Thái Bình; Tác giả Nguyễn Văn Hà nghiên cứu “Quản lí hoạt động GDĐĐ học sinh tại trường THPT Quan Lạn, Quảng Ninh”; Tác giả Nguyễn Quốc Đạt với đề tài luận văn Thạc sĩ: “Biện pháp quản lí hoạt động giáo dục đạo đức học sinh trường THPT Thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai”, năm 2015,… 10 Các đề tài luận văn trên đã nêu ra một số biện pháp quản lí hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THPT ở các địa phương khác nhau. Riêng tại quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh chưa có tác giả nào nghiên cứu về quản lí hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học.
Các khái niệm cơ bản của đề tài 1. Khái niệm hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học 1. Khái niệm đạo đức Dưới góc độ triết học, người ta quan niệm rằng Đạo đức là một trong những hình thái sớm nhất của ý thức xã hội, bao gồm những nguyên lí, quy tắc, chuẩn mực điều tiết hành vi của con người trong quan hệ với người khác với cộng đồng.