Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC 1.1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 1.1 Nghiên cứu ngoài nước Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội được phản ánh dưới dạng những nguyên tắc, yêu cầu chuẩn mực, quy tắc điều chỉnh hành vi của con người trong mối quan hệ giữa con người với con người, giữa cá nhân với cộng đồng, với xã hội ngày tốt đẹp và nhân văn có tính chất xã hội rộng lớn thì hoạt động của con người ngày càng có đạo đức. Nó được hình thành rất sớm trong lịch sử nhân loại và được mọi xã hội, mọi tầng lớp, mọi thời đại quan tâm. Con người của thời đại nào thì phục vụ cho sự nghiệp và phát triển của thời đại đó, của xã hội đó. Vi vậy, giáo dục đạo đức là một vấn để thiết thực và quan trọng góp phần trong việc hình thành và phát triển nhân cách cho HS.
Hoạt động giáo dục đạo đức (HĐGDĐĐ) từ lâu đã trở thành đề tài nghiên cứu phong phú và hấp dẫn đối với các nhà nghiên cứu khoa học xã hội và càng ngày họ càng phát hiện ra vai trò to lớn của hoạt động này trong việc hình thành và phát triển nhân cách toàn diện của con người. Đạo đức là vấn đề được các nhà tư tưởng và triết học đề cập đến từ lâu, được xã hội mọi thời đại cả phương Tây lẫn phương Đông quan tâm và coi trọng. Tác phẩm Aristotle với học thuyết phạm trù của Nguyễn Văn Dũng (1996) thể hiện rõ quan điểm của nhà triết học Hy Lạp cổ đại cho rằng trước tiên học đạo đức rồi sau đó học trí thức, không có đạo đức, tri thức khó thành đạt. Socrates và tư tưởng độc đáo của ông cũng chính là lời nhắc nhở chúng ta không ngừng bồi dưỡng đạo đức, nâng cao trí tuệ để hoàn thiện hơn mỗi ngày.
Nhà triết học Socrate cho rằng: “Bản tính con người vốn thiện, nếu tỉnh thiện ấy được lan tỏa thì con người sẽ có hạnh phúc” Muốn xác định được chuẩn mực đạo đức, theo Socrate phải bằng nhận thức lí tính với phương pháp nhận thức khoa học. Makarenko rất đề cao vai trò của GDĐĐ và các biện pháp, nguyên tắc giáo dục như: “Giáo dục trong tập thể và bằng tập thể”,“tôn trọng và yêu cầu cao đối với học sinh”. Kômenxki đã đúc kết “Một số qui tắc trong ứng xử” đặc biệt quan tâm đến phương pháp nêu gương cho học sinh (HS), đặc biệt là sự gương mẫu của các thầy giáo, cha mẹ và những người thân. Ông kêu gọi các bậc cha mẹ, các nhà giáo và tất cả những người làm nghề nuôi dạy trẻ: “Hãy mãi mãi là một tấm gương trong đời sống, trong mọi sinh hoạt để trẻ em noi theo và bắt chước mà vào đời một cách chân chính.
Rabole (1494-1553) là một trong những đại biểu xuất sắc của chủ nghĩa nhân đạo Pháp và tư tương giảo dục thời kỳ văn hóa Phục hưng. Ông đòi hỏi việc giáo dục phải 6 bao hàm các nội dung: "Trí dục, đạo đức, thể chất và thấm mỹ và đã có sáng kiến tố chức các hình thức giáo dục như ngoài việc học ở lớp và ở nhà, còn có các buổi tham quan các xưởng thợ, các cửa hàng, tiếp xúc với các nhà văn, các nghệ sĩ, đặc biệt là mỗi tháng một lần thầy và trò về sống ở nông thôn một ngày". Jan Amos Komensky, ông là một trong những nhà triết gia, nhà cải cách giáo dục nước Séc được coi là "ông tổ của nền sư phạm cận đại" đã có nhiều đóng góp to lớn cho nền giáo dục thế giới. Trong đó ông đặc biệt chú trọng đến việc kết hợp học tập ở trên lớp và hoạt động ngoài lớp nhằm thoát khỏi hình thức học tập "giam hăm trong bốn bức tường" của hệ thống nhà trường giáo hội thời trung cổ.
Ông khẳng định "học tập không phải là lĩnh hội những kiến thức trong sách vở mà còn lĩnh hội kiến thức từ bầu trời, mặt đất, cây sồi, cây dẻ". Angghen (1959), đã xác định mục đích của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa là đào tạo ra "con người phát triển toàn diện. Do đó cần phải quản lý được phương thức giáo dục hiện đại là quản lý các hoạt động giáo dục kết hợp với lao động sản xuất". Makarenko là nhà sư phạm nổi tiếng của nước Nga.
Ông đã để ra phương pháp giáo dục mang tính tập thế, kết hợp hài hòa giữa ý chí GV và nguyện vọng của HS. Ông chỉ ra rằng: "Giáo dục lao động và tập luyện thể thao phát triển thể lực và trí lực trẻ em, đồng thời tăng thêm lòng tự tin và phát huy tính sáng tạo”. Lý thuyết về giáo dục của Makarenko chú trọng vào cách tiếp cận “tập thể”, đây cũng là trung tâm trong phương pháp sư phạm của ông. Ông cho rằng, giáo viên phải biến lớp học thành tập thể có chung mục tiêu bởi tập thể là sợi dây liên kết giữa cá nhân và xã hội.
Theo quan điểm học thuyết Mác-Lênin: Đạo đức có nguồn gốc từ lao động xã hội và đời sống cộng đồng xã hội, nó phản ánh và chịu sự chi phối của tồn tại xã hội. Khi tồn tại xã hội thay đổi thì đạo đức xã hội cũng thay đổi theo. Chính vì vậy đạo đức mang tính lịch sử, tính giai cấp và tính dân tộc. Trong cuốn sách nổi tiếng của Watson (2008) “Handbook of moral and character education” (tạm dịch: Giáo dục đạo đức và nhân cách), tác giả đưa ra bốn thành phần cần thiết để quản lý lớp học nhằm hỗ trợ phát triển đạo đức cho học sinh là: mối quan hệ ấm áp, tin cậy và nuôi dưỡng giữa giáo viên và học sinh; xây dựng một cộng đồng học tập yêu thương, chăm sóc và dân chủ; cung cấp cơ hội thảo luận và suy nghĩ về các giá trị đạo đức; kĩ thuật kiểm soát, hướng dẫn và phản ứng với những sai lầm.
Để đạt được điều này không phải là điều dễ dàng, nó đòi hỏi một giáo viên đủ tốt để quản lý lớp học, chắc chắn đó không phải là những giáo viên chỉ sử dụng quyền uy, kêu gọi thật to sự chú ý, thậm chí bắt nạt học trò. Nó đòi hỏi một giáo viên có đủ tình yêu thương, chăm sóc, quan tâm học trò để thiết lập mối quan hệ tin tưởng giữa thầy - trò. Cho đến nay, nghiên cứu này của Watson được xem như một trong những nền tảng quan trọng cho những thảo luận về quản lý giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ. 7 Zhanjun Ma (2010) khi nghiên cứu vấn đề xây dựng giáo dục đạo đức trong các trường học hiện nay ở Trung Quốc cho rằng, cần phải xây dựng cơ chế quản lí giáo dục đạo đức với trọng tâm kích thích, tạo ra sự sáng tạo của giáo dục đạo đức, tìm kiếm các phương pháp cơ bản cho sự phát triển mới của đạo đức, xây dựng ba hệ thống chính về quản lí giáo dục đạo đức trong các trường học.
(2016) cho rằng, cuộc sống thực tế phong phú và đầy màu sắc tốt đẹp xung quanh học sinh chính là phương tiện cho các hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh, và quản lý giáo dục đạo đức là kiểu quản lý giáo dục mang tính nhân văn, đó là quản lý một môi trường giáo dục cởi mở, quản lý một cuộc sống thực tế phong phú và đầy màu sắc của học sinh. Trong môi trường ấy, học sinh được trải nghiệm, được hướng dẫn để đi đến một quan điểm “đúng/sai”, “tốt/kém”, “đẹp/xấu” về cuộc sống và liên tục cải thiện nhân cách. Giáo viên phải đóng vai trò chủ động hướng dẫn học sinh bước vào cuộc sống thực tế, tạo điều kiện để họ thể hiện khả năng của mình. Ngày nay, các nước trên thế giới rất coi trọng việc GDĐĐ cho HS.
Tác giả Holbach (1773) người đã khái quát và hệ thống hóa tư tưởng tiên tiến. Chủ nghĩa duy vật Pháp cho rằng: “Nhiệm vụ chính của đạo đức là vạch cho những điều kiện trong đó lợi ích cá nhân là cơ sở tất yếu của hành vi con người có thể dung hợp và lợi ích cá nhân là cơ sở tất yếu của hành vi con người có thể dung hợp với lợi ích xã hội". Ở Singapore mục tiêu GDĐĐ cho HS là nhằm thúc đẩy sự phát triển tỉnh thần, đạo đức, văn hóa và thể chất của HS. Ở Nhật Bản, việc GDĐĐ cho HS là nhằm bồi dưỡng giá trị tinh thần tôn trọng nhân cách con người, bồi dưỡng giá trị Chân - Thiện - Mỹ.
Còn ở Hoa Kỳ việc GD đạo đức cho HS được quan tâm đặc biệt. Cùng với xu thế hội nhập và phát triển của các quốc gia, giáo dục của các nước đang có những định hướng cơ bản nhằm tạo một thế hệ năng động sáng tạo, thích nghi với hoàn cảnh sống luôn thay đổi, trong đó kĩ năng sống là thành tố cốt lõi của chất lượng giáo dục.2 Nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam ngay từ khi thành lập nước, Đảng và Nhà nước đã rất quan tâm đến giáo dục, coi sự dốt nát nguy hiểm như giặc ngoại xâm và ngày càng coi trọng giáo dục. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành trung ương Đảng khóa VIII đã khẳng định: “Phải thực sự coi giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu”, toàn xã hội chăm lo cho sự nghiệp giáo dục. Năm 1979 Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã ra nghị quyết về cải cách giáo dục.
Ủy ban Cải cách Giáo dục Trung ương đã ra quyết định số 01 về cuộc vận động tăng cường hoạt động GDĐĐ cách mạng trong trường học. Quyết định ghi rõ "Nội dung đạo đức cần được giáo dục cho HS từ mẫu giáo đến đại học nội dung chủ yếu dựa vào 5 điều Bác Hồ dạy". Nhiều tác giả đã nghiên cứu vấn đề này. Trong bức thư cuối cùng gửi ngành giáo dục (15/10/1968) khi cả nước đang tiến hành cuộc kháng chiến anh dũng chống 8 lại sự xâm lược tàn bạo của đế quốc Mĩ, Hồ Chí Minh kêu gọi:"Dù khó khăn đến đâu cũng phải tiếp tục dạy tốt và học tốt.
Trên nền tảng giáo dục chính trị và lãnh đạo tư tưởng tốt, phải phấn đấu nâng cao chất lượng văn hóa và chuyên môn nhằm thiết thực giải quyết các vấn để do Cách mạng nước ta để ra và trong một thời gian không xa đạt những đỉnh cao của khoa học kĩ thuật". Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã nói:“Có tài mà không có đức thì là người vô dụng”.