Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUAN ĐIỂM DẠY HỌC LẤY HỌC SINH LÀM TRUNG TÂM VÀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC LẤY HỌC SINH LÀM TRUNG TÂM Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Dạy học là một hoạt động có đặc trưng cơ bản là hoạt động dạy của GV và hoạt động học của HS tồn tại trong mối quan hệ tương tác, biện chứng. Trong đó, GV với hoạt động dạy và HS với hoạt động học là hai nhân tố trung tâm trong những nhân tố cấu trúc hoạt động dạy học. Trong lí luận dạy học, có những quan điểm khác nhau về vị trí, vai trò của GV và HS.
Nhưng xét tổng thể có hai hướng nhìn nhận chung như sau: lấy GV làm trung tâm (tập trung vào vai trò hoạt động của GV) hoặc lấy HS làm trung tâm (tập trung vào vai trò hoạt động của HS). Hoạt động dạy học ở nhà trường muốn đạt hiệu quả thì nhất thiết phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa hoạt động dạy của GV với hoạt động học của HS. Một GV sáng tạo là một GV biết giúp đỡ HS tiến bộ nhanh chóng trên con đường tự học. GV phải là người hướng dẫn, người cố vấn hơn là chỉ đóng vai trò công cụ truyền đạt tri thức (Trần Bá Hoành, 2003).
Trong từng bối cảnh lịch sử, việc tổ chức dạy học ở những giai đoạn khác nhau đã có sự thay đổi, chuyển biến khác nhau. Ở thời kì tổ chức nhà trường chưa được hình thành, GV thường dạy cho một nhóm nhỏ HS, trong đó, lứa tuổi và trình độ HS có thể có sự chênh lệch không nhỏ. GV bắt buộc phải coi trọng trình độ, năng lực, tính cách của mỗi HS và GV có điều kiện để thực hiện cách dạy thích hợp cho từng HS. Do vậy, vai trò chủ động tích cực của người học được đề cao.
Tuy nhiên, với hình thức tổ chức nhỏ lẻ như vậy đã cho năng suất dạy học quá thấp. 9 Từ khi xuất hiện tổ chức nhà trường với những lớp học có nhiều HS cùng lứa tuổi và trình độ tương đối đồng đều thì GV lại khó có điều kiện chăm lo cho từng HS, giảng dạy cặn kẽ cho từng em. Từ đó hình thành kiểu dạy học “thông báo - đồng loạt”. GV quan tâm trước hết đến việc hoàn thành trách nhiệm của mình là truyền đạt cho hết nội dung quy định trong chương trình và sách giáo khoa, cố gắng làm cho mọi HS trong lớp hiểu và nhớ những lời thầy giảng.
Chính vì vậy, kiểu học thụ động, thiên về ghi nhớ, ít chịu suy nghĩ đã tự hình thành. Tình trạng này càng ngày càng phổ biến, đã tạo nên sự hạn chế chất lượng, hiệu quả dạy học, không đáp ứng được yêu cầu của xã hội đối với sản phẩm của giáo dục nhà trường. Để khắc phục tình trạng trên, cần phát huy tính tích cực chủ động học tập của HS, thực hiện “dạy học phân hóa”, quan tâm đến nhu cầu, khả năng của mỗi cá nhân HS trong tập thể lớp. Các phương pháp “dạy học tích cực”, “lấy người học làm trung tâm” đã ra đời trong bối cảnh đó.
Đã có nhiều nghiên cứu cả trong và ngoài nước về dạy học theo quan điểm lấy học sinh làm trung tâm. Nghiên cứu ở nước ngoài Tư tưởng nhấn mạnh vai trò tích cực chủ động của người học, xem người học là chủ thể của quá trình học tập đã có từ lâu, ở thế kỉ XVII, A.Kômenski đã viết: “Giáo dục có mục đích đánh thức năng lực nhạy cảm, phán đoán, phát triển nhân cách, hãy tìm ra phương pháp cho phép GV dạy ít hơn, HS học nhiều hơn”. Cũng từ lâu trong giáo dục đã xuất hiện các thuật ngữ “sự tự giáo dục”, “người tự giáo dục”. Dạy học lấy học sinh làm trung tâm là một cách tiếp cận đã có từ lâu, đã được các nhà giáo dục trên thế giới nghiên cứu và đã được thực hiện tại các quốc gia có nền giáo dục phát triển.
Một số mô hình giáo dục đời đầu thành công trên thế giới được xây dựng trên quan điểm dạy học lấy học sinh làm trung tâm, có thể kể đến như mô hình Montessori (Italy), Reggio Emilia (Italy), High 10 Scope (Mỹ). Ở bậc tiểu học, mô hình trường học mới VNEN với một số đặc điểm nổi bật như: Hoạt động học của học sinh được coi là trung tâm của quá trình dạy học; GV với vai trò là người hướng dẫn học, quan tâm đến sự khác biệt trong việc tiếp thu kiến thức của HS; việc đánh giá học sinh thường xuyên theo quá trình học tập nhằm kiểm tra và hướng dẫn phương pháp học tập có hiệu quả – phương pháp học tập là một yêu cầu quan trọng; phải xây dựng môi trường học tập cởi mở, thân thiện, hiệu quả; sách giáo khoa nay gọi là tài liệu hướng dẫn học được thiết kế cho học sinh hoạt động, tự học, học nhóm; sách biên soạn cho 3 trong 1, nghĩa là sách dùng chung cho cả giáo viên, học sinh và cha mẹ HS; hoạt động học tập của HS không đóng khung trong bốn bức tường lớp học, mà phải giúp học sinh “vận dụng” và “tìm tòi, mở rộng” ra bên ngoài. Nhà giáo dục Bennet (Anh), người đã nhiều năm nghiên cứu về tính hiệu quả của các mô hình giáo dục khác nhau, cho rằng có thể xếp các mô hình dạy học vào một trong hai cách tiếp cận dạy học chính với các đặc điểm nổi bật như sau: Cách tiếp cận dạy học lấy GV làm trung Cách tiếp cận dạy học lấy HS làm trung tâm tâm và mang tính truyền đạt và khuyến khích HS tích cực, chủ động Phân chia các môn học riêng rẽ Tích hợp các môn học GV là người phân phát kiến thức và GV là người hướng dẫn quá trình học kỹ năng HS thụ động HS có vai trò tích cực HS không được tham gia vào quá HS tham gia vào quá trình xây dựng kế trình xây dựng kế hoạch học tập hoạch học tập Sử dụng nhiều phương pháp dạy học hướng Chú trọng tới ghi nhớ và làm bài tập tới sự tích cực khám phá của HS 11 Cách tiếp cận dạy học lấy GV làm trung Cách tiếp cận dạy học lấy HS làm trung tâm tâm và mang tính truyền đạt và khuyến khích HS tích cực, chủ động Chú trọng tới động cơ học tập bên trong của Sử dụng nhiều công cụ động cơ bên HS, ít sử dụng các biện pháp thưởng phạt từ ngoài: điểm, phiếu khen thưởng, phạt bên ngoài Học cái gì là quan trọng Học như thế nào là quan trọng Thường xuyên kiểm tra, đánh giá Ít kiểm tra, đánh giá Chú trọng khả năng hợp tác Chú trọng tới sự thi đua và làm việc theo nhóm Dạy học luôn ở trong phạm vi lớp học Dạy học vượt ra ngoài phạm vi lớp học Ít quan tâm tới phát triển tính sáng tạo Chú trọng tới phát triển tính sáng tạo Khi GV lấy HS làm trung tâm cho hoạt động dạy của mình thì sẽ đặt nhu cầu khám phá tri thức của HS lên trên hết. HS sẽ được trao “đặc quyền” là được tham gia vào quá trình xây dựng kế hoạch học tập.
HS hoàn toàn chủ động trong việc học của mình. Muốn được như vậy, GV cần hết sức khéo léo tạo những động cơ học tập từ bên trong cho HS, để tự bản thân HS nhận thấy rằng việc học là thú vị và cần thiết cho chính mình. Từ đó, con đường tiếp nhận tri thức được diễn ra một cách rất đỗi tự nhiên. HS không chỉ nhớ kiến thức một cách dễ dàng mà còn có khả năng vận dụng lí thuyết vào thực tiễn khi gặp vấn đề trong cuộc sống.
Ngoài ra, với cách tiếp cận dạy học lấy người học làm trung tâm, khả năng hợp tác và làm việc nhóm được phát huy tối đa trong khi cách tiếp cận lấy GV làm trung tâm lại chỉ chú trọng tới sự thi đua. Với cách tiếp cận mới, HS có “đất diễn” để thể hiện bản thân nhưng cũng được rèn luyện sự mềm dẻo, linh hoạt khi hợp tác cùng “cộng sự” nhằm hoàn thành mục tiêu chung của nhóm. Khả năng hợp tác là một yếu tố rất quan trọng quyết định sự thành công của cá nhân khi HS đã trưởng thành và làm việc ở bất kì môi trường nào. Nghiên cứu ở trong nước Riêng tại Việt Nam, mầm mống tư tưởng dạy học lấy HS làm trung tâm đã có từ rất lâu.
Sau cách mạng tháng Tám 1945, các phong trào học tập dân chủ, học tổ học nhóm, có chủ trương biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo, phát huy tính độc lập sáng tạo của HS. Quan điểm dạy học tập trung vào người học cũng đã được các nhà giáo dục trong nước nghiên cứu một cách nghiêm túc. Tuy cuộc đổi mới về giáo dục của chúng ta có chậm hơn những đổi mới về kinh tế nhưng chủ trương về đổi mới nền giáo dục đến nay cũng đã được trên 20 năm. Ở nước ta, vấn đề phát huy tích cực chủ động của HS nhằm đào tạo những người lao động sáng tạo đã được đặt ra trong ngành giáo dục từ những năm 1960.
Khẩu hiệu “biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo” cũng đã đi vào các trường sư phạm từ thời điểm đó. Tuy nhiên, thuật ngữ “dạy học lấy người học làm trung tâm” (dạy học tập trung vào người học) chỉ mới xuất hiện và được sử dụng phổ biến trong những năm gần đây (Trần Bá Hoành, 2003). Với quan điểm lấy người học làm trung tâm là cách tiếp cận hiện đại trong giáo dục nói chung, GS Hồ Ngọc Đại, người sáng lập trung tâm Công nghệ Giáo dục và Trường Thực nghiệm giáo dục coi quy trình giáo dục là một công nghệ - Công nghệ Giáo dục mà trong đó học sinh phải là trung tâm. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ưu tiên việc thí điểm triển khai dự án Mô hình trường học mới GPE-VNEN (Global Partnership for Education-Vietnam Escuela Nueva) khởi nguồn từ Colombia để thực hiện quá trình đổi mới giáo dục.
Mô hình VNEN nếu được thực hiện đúng sẽ có thể là minh chứng rõ nét nhất cho hiệu quả của cách tiếp cận dạy học lấy người học làm trung tâm. Đây là một dự án về sư phạm nhằm xây dựng và nhân rộng một kiểu mô hình nhà trường tiên tiến, hiện đại, phù hợp với mục tiêu phát triển và đặc điểm của giáo dục Việt Nam, theo nguyên tắc lấy HS làm trung tâm.