MỞ ĐẦU Phần thứ hai: NỘI DUNG 6 Phần nội dung của luận văn gồm có ba chương, bao gồm: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận về quản lí hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực ở trường Trung học phổ thông. Chƣơng 2: Thực trạng quản lí hoạt động dạy học theo hướng phát triển năng lực ở các trường THPT huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước. Chƣơng 3: Biện pháp quản lí hoạt động dạy học theo hướng phát triển năng lực ở các trường THPT huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước. Phần thứ ba: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC 7 Chƣơng 1.
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC THEO ĐỊNH HƢỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan nghiên cứu quản lí hoạt động dạy học theo định hƣớng phát triển năng lực 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài Quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực là một trong những nhân tố có ảnh hưởng lớn đến việc nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo của một cơ sở giáo dục. Quản lí giáo dục, quản lí nhà trường và đặc biệt là QL HĐDH trong nhà trường đã được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm.
Từ thế kỷ XIV, vấn đề DH và quản lí dạy học đã được nhiều nhà giáo dục nghiên cứu và công bố nhiều công trình có giá trị: Các nhà giáo dục Xô Viết như V. đã công bố nhiều tác phẩm nổi tiếng về công tác quản lí trường học.A Xu khomlinxki rất coi trọng dự giờ - phân tích giờ dạy, bồi dưỡng đội ngũ để GV nâng cao trình độ [24].Pxtrezicondin đi sâu phân tích công tác kế hoạch hoá trong quá trình quản lí, bồi dưỡng lí luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ cho GV, công tác kiểm tra quá trình DH được ông nhấn mạnh và cụ thể hóa [37]. về quản lí quá trình DH, Zakharôp rất quan tâm thu thập, phân tích những số liệu, chỉ số phản ánh tình hình giảng dạy, học tập, việc phối hợp trong Ban giám hiệu nhằm giúp đỡ GV tiến bộ về PPDH [37]. Trong các công trình nghiên cứu, các tác giả đã khẳng định Hiệu trưởng nhà trường là người lãnh đạo toàn diện và chịu trách nhiệm trong công tác quản lí nhà trường; xây dựng được đội ngũ GV tâm huyết với nghề, chuyên môn vững, sáng tạo trong lao động, ngày càng hoàn thiện tay nghề sư phạm là yếu tố quyết định thành công trong QL HĐDH; kết quả DH của nhà trường phụ thuộc nhiều vào biện pháp quản lí đúng đắn và hợp lí của người Hiệu trưởng.
Trong công tác quản lí nhà trường phổ thông thì QL HĐDH là một nhiệm vụ trọng tâm, quan trọng nhất. QL HĐDH là bộ phận cấu thành chủ yếu của quản 8 lí giáo dục. Kết quả quản lí nhà trường phụ thuộc rất nhiều vào việc tổ chức đúng đắn và hợp lí hoạt động DH. Vấn đề DH theo hướng phát triển năng lực người học được quan tâm và phát triển từ những năm 50 của thế kỷ XX.
Đến những năm 70 của thế kỷ XX, các nước xã hội chủ nghĩa có nhiều công trình nghiên cứu năng lực nghề nghiệp cho người học trong việc tổ chức HĐDH trong các nhà trường. Trong tác phẩm “Lí luận DH của nhà trường phổ thông trung học” năm 1982 của tác giả M.Okon đã nêu một số nét đặc trưng của của hoạt động sáng tạo phát triển năng lực: khả năng tư duy độc lập, chuyển kiến thức vào các tình huống mới để vận dụng giải quyết; xây dựng được cách giải quyết mới khác với cách giải đã biết và không phải là tổ hợp các cách giải đã biết [24]. Trong tác phẩm “Khoa học sư phạm tích hợp hay làm thế nào để phát triển các năng lực ở nhà trường”, Xavier Roegiers cho rằng: ngoài khía cạnh kiến thức đơn thuần, nhà trường trước hết phải tập trung cố gắng dạy cho HS sử dụng kiến thức của mình vào các tình huống có ý nghĩa đối với HS, hay nói cách khác nhà trường cần phát triển những năng lực ở HS [44]. Các nước phương Tây vào cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI phát triển nhiều công trình nghiên cứu về tư duy sáng tạo trong HS THPT như triển khai các cuộc thi nghiên cứu khoa học kỹ thuật, thi sáng tạo Robot.
Ở Châu Á-Thái Bình Dương, vấn đề phát triển năng lực người học gắn với các hoạt động trải nghiêm thực tiễn được nhiều quốc gia quan tâm và đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu chuyên sâu. Điển hình như tiến sĩ giáo dục học Raija (người Ân Độ) trong cuốn: “Nền giáo dục cho thế kỷ XXI, những triển vọng của Châu Á Thái Bình Dương” đã khẳng định trong tổ chức DH phải xác định những giá trị và kỹ năng mong muốn mà mục đích của quá trình truyền đạt tri thức cần phát triển. HS phải rèn cho HS năng lực phán đoán, suy luận, giải quyết vấn đề, kỹ năng hợp tác làm việc, làm việc trong một tổ chức, có sáng kiến. 9 Qua các nghiên cứu của tác giả nước ngoài cho thấy vấn đề DH và QL HĐDH được nghiên cứu một cách hệ thống, cơ sở lí luận đó được đúc kết từ thực tiễn quản lí, phát triển theo từng giai đoạn lịch sử; khẳng định giáo dục giữ vai trò chủ đạo trong phát triển nhân cách con người và có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của xã hội.
Kết quả giáo dục phụ thuộc rất nhiều vào công tác QL HĐDH, nhân tố người thầy và tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học trò. Những nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam, các vấn đề có liên quan đến PPDH cũng rất được quan tâm, đặc biệt sau năm 1986 (được coi là mốc của đổi mới tư duy). Nhiều tác giả có các công trình nghiên cứu về vấn đề này như: Phạm Minh Hạc, Nguyễn Kỳ, Trần Bá Hoành, Trần Kiều, Nguyễn Hữu Chí, và một số các nhà giáo giàu kinh nghiệm cũng quan tâm đến vấn đề PPDH và phát triển lý luận dạy học chung vào thực tiễn dạy học ở Việt Nam: Văn Như Cương, Tôn Thân. Phương pháp giảng dạy theo lối truyền thụ một chiều không còn phù hợp.
Sự cần thiết phải chuyển sang dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh. Tác giả Đặng Quốc Bảo và Phạm Minh Mục cho rằng “Việc thực hiện thành công định hướng giáo dục theo hướng tiếp cận năng lực sẽ góp phần vào sự thành công của công cuộc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục Việt Nam”. Tác giả đã đề cập đến các nội dung tiếp cận về phạm trù năng lực, năng lực và năng khiếu, trí năng và tám cấp độ của trí năng, phát triển hài hòa cấu trúc năng lực, nhiệm vụ của nhà trường trong giáo dục năng lực cho học sinh [3]. Về quản lý đổi mới PPDH và quản lý chất lượng, hiệu quả dạy học phải kể đến các công trình nghiên cứu của: Quách Tuấn Ngọc[33], Trần Kiểm[28], Trần Kiều[31], Trần Bá Hoành[27],.
luôn lấy người học làm trung tâm với ý tưởng cốt lõi là người học phải tích cực, chủ động, sáng tạo trong quá trình học tập. Quan điểm này hoàn toàn phù hợp với tinh thần nghị quyết TW4 khoá VIII về GD&ĐT. Nghị quyết yêu cầu: “Đổi mới mạnh mẽ PPGD, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học”. Nội dung này đã được thể hiện thành quy định pháp luật tại Điều 4, Luật giáo dục [7], trong đó có yêu cầu cơ bản là: (1) Nội dung giáo dục phải đảm bảo tính cơ bản, toàn diện, 10 thiết thực, hiện đại và c hệ thống; (2) phương pháp giáo dục phải phát huy tính tự giác, tích cực, chủ động sáng tạo của HS, phù hợp với đặc điểm từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vân dụng kiến thức vào thực tiễn.
Tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh. Vấn đề DH theo hướng phát triển năng lực người học cũng được một số tác giả nghiên cứu trong những năm gần đấy với một số luận văn thạc sĩ như: tác giả Nguyễn Thị Thế (2014) với đề tài “Dạy học theo hướng tiếp cận năng lực nội dung "nguyên hàm" ở trường trung học phổ thông”, luận văn thạc sỹ ĐHQGHN [39]; tác giả Nguyễn Quốc Trịnh (2011) với đề tài “DH phát triển năng lực HS THPT với các bài toán tiếp cận chương trình ĐG HS quốc tế (Pi-sa), luận văn thạc sỹ ĐHQGHN [40]; tác giả Lê Thị Thúy Hà (2015) với đề tài “phát triển năng lực tự học của học sinh thông qua dạy học chương kim lọai kiềm – kim loại kiềm thổ - nhôm hoá học lớp 12 trung học phổ thông”, luận văn thạc sỹ ĐHQGHN [14] ; tác giả Lê Vân Anh (2018) với đề tài “Thiết kế hoạt động trải nghiệm sáng tạo môn địa lí theo định hướng phát triển năng lực học sinh THPT tỉnh Thái Nguyên”, luận văn thạc sỹ ĐHSPTN [1]; tác giả Lê Thị Thu Hương (2018) với đề tài “Thiết kế cấu trúc bài học trên lớp theo hướng phát triển năng lực học sinh trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông” [21, Tr 159- 162]; Nguyễn Mạnh Hưởng (2017) với đề tài “Thiết kế và tổ chức hoạt động dạy - học Lịch sử ở trường phổ thông theo hướng phát triển năng lực học sinh” [23, tr 119- 126]; …Tác giả Nguyễn Hữu Chí cũng lưu ý việc quan tâm phát triển năng lực của HS thông qua việc giảm thời lượng truyền thụ kiến thức ở trường và tăng thời gian để HS hoạt động trải nghiệm, sáng tạo. Theo đó đề xuất xu hướng chung của chương trình hiện đại là lựa chọn hợp lí các chủ đề học tập, tránh quá tải về kiến thức, dành đủ thời gian cho các hoạt động của HS nhằm rèn luyện kỹ năng. Trong đề tài “Tổng quan về các khung năng lực ở HS trong mục tiêu giáo dục phổ thông" công bố năm 2007 của Viện Khoa học và giáo dục Việt Nam tác giả Nguyễn Thị Minh Phương cho rằng: năng lực của HS được thể hiện ở khả năng thực hiện hành động cá nhân trong giải quyết các nhiệm vụ học tập hoặc 11 năng lực tiến hành hoạt động học tập của cá nhân người học.
Năng lực nói chung luôn được xem xét trong mối quan hệ với dạng hoạt động hoặc quan hệ nào đó [35]. Tác giả Trần Thị Thanh Thủy (2016) “Dạy học tích hợp phát triển năng lực học sinh” [41].