phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, phần nội dung chính đƣợc trình bày trong ba chƣơng: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Việt ở các trƣờng tiểu học. - Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Việt ở các trƣờng tiểu học huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai. - Chƣơng 3: Biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Việt ở các trƣờng tiểu học huyện Đak Đoa tỉnh Gia Lai. 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TIẾNG VIỆT Ở CÁC TRƢỜNG HỌC TIỂU HỌC 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu nước ngoài Giao tiếp là nhu cầu cơ bản của mỗi ngƣời từ lúc sinh ra cho tới khi mất đi. Trong quá trình giao tiếp thì phƣơng tiện giao tiếp quan trọng và chủ yếu là ngôn ngữ. Nó không chỉ thể hiện ý nghĩ và tình cảm của con ngƣời mà còn nói lên trình độ học vấn, văn hoá và nhân cách của con ngƣời, dân tộc, quốc gia.
Do đó phát triển ngôn ngữ là vấn đề quan trọng đƣợc đặt ra trong chƣơng trình giáo dục tại mỗi quốc gia, đặc biệt là tại các nƣớc đang phát triển. Nhà giáo dục thụy sĩ Johann Heinrich Pestalozzi (1746 – 1827) Pestalozzi Johann Heinrich (1969) The Education of man: Aphorism, Greenwood đã đƣa ra qua điểm dạy học giúp phát triển đam mê và khát vọng của ngƣời học. Còn Pestalozzi nghiên cứu và đƣa ra một số phƣơng pháp giáo dục mới so với thời đại của ông nhƣ phƣơng pháp dạy học gắn liền với những vấn đề tâm lý. Theo ông nền tảng của sự hiểu biết là trực giác và ngôn ngữ.
Tuy nhiên, ngƣời đầu tiên thu hút sự chú ý đến mô hình cấu trúc của năng lực ngôn ngữ là Noam Chomsky, (1928) một nhà giáo dục học ngƣời Mỹ. Ông đồng thời là ngƣời sáng lập ra trƣờng phái ngữ pháp biến đổi-generative. Tác phẩm "Các cấu trúc cú pháp", xuất bản năm 1957, đƣợc coi là một trong những thành tựu quan trọng thời bấy giờ. Theo Chomsky, mục đích của lý thuyết ngôn ngữ là giúp xây dựng cấu trúc câu dựa trên các quy tắc cụ thể và trong tác phẩm "Stactical Theoretical Problems" xuất bản năm 1965, ông đã xây dựng lý thuyết trên để chứng minh rằng ngôn ngữ phải có khả năng làm rõ mối quan hệ chặt chẽ giữa âm thanh và ý nghĩa của ngôn ngữ đó.
Theo Chomsky, bất kỳ ngôn ngữ nào cũng phức tạp và không đứa trẻ nào có thể học đƣợc hạt nhân cú pháp đó trừ khi chúng có kiến thức bẩm sinh hoàn chỉnh về ngữ pháp của ngôn ngữ đó. Từ nghiên cứu và quan sát của mình, ông đƣa ra giả thuyết rằng mọi đứa trẻ đều có khả năng tự nhiên để tiếp thu và sử dụng ngữ pháp và cấu trúc của tiếng mẹ đẻ. Cùng thời với Noam Chomsky là Halliday, ông là một nhà ngôn ngữ học xuất sắc và dẫn đầu hai dự án dạy tiếng mẹ đẻ ở các trƣờng tiểu học và trung học ở Vƣơng quốc Anh vào những năm 1960 và 1970. Ông cho rằng: phát triển ngôn ngữ là khả năng làm chủ chức năng ngôn ngữ.
Nếu một đứa trẻ học tiếng mẹ đẻ và học cách sử dụng tiếng mẹ đẻ của mình, tức là tiềm năng ý nghĩa gắn liền với các từ, chứ không 6 phải tiếng mẹ đẻ để nắm vững các cấu trúc, cấu trúc ngữ pháp. Khi trẻ còn nhỏ, ngôn ngữ có nhiều chức năng hơn đối với chúng, cụ thể là các chức năng giúp chúng khám phá, giao tiếp, tƣởng tƣợng và thông báo. Qua đó, một mặt ông thừa nhận quan điểm của Chomsky rằng: ngôn ngữ là tri thức trừu tƣợng, nhƣng mặt khác, Halliday nói thêm rằng: ngôn ngữ cũng là hành vi của con ngƣời và nó phát triển theo nhu cầu thay đổi của cộng đồng con ngƣời. Trong tác phẩm “Về ngôn ngữ trong mối quan hệ với sự tiến hóa của ý thức con người”, ông cho rằng ngôn ngữ ảnh hƣởng đến sự phát triển của ý thức con ngƣời, nhƣng đồng thời nó cũng vừa chịu ảnh hƣởng của sự phát triển của ý thức con ngƣời.
Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và ý thức chính là mối quan hệ biện chứng. Các nghiên cứu trong nước Ý thức đƣợc tầm quan trọng của giáo dục đối với sự phát triển của đất nƣớc, trong thời gian qua và dƣới những góc độ khác nhau, các nhà khoa học Việt Nam cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu đóng góp về mặt lý luận quản lý giáo dục và quản lý dạy học trong nhà trƣờng tiêu biểu nhƣ: Hà Thế Ngữ (2001), “Giáo dục học, một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, NXB Đại học quốc gia Hà nội. Tác phẩm đƣa ra một số vấn đề liên quan đến giáo dục, bình luận và phân tích các vấn đề này. Trần Kiểm, (2007), “Khoa học quản lý giáo dục, một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, NXB Giáo dục Việt Nam, nghiên cứu về quá trình quản lý giáo dục, sự cấp bách của việc nghiên cứu khoa học quản lý giáo dục, đánh giả hiệu quả lao động quản lý giáo dục.
Lục Thị Nga (2006), “Những tình huống thƣờng gặp trong quản lý nhà trƣờng”, NXB Giáo dục Việt Nam. Tác phẩm đƣa ra nhiều biện pháp đổi mới về nội dung dạy học; về đào tạo tại các trƣờng sƣ phạm; việc tổ chức bồi dƣỡng nâng cao năng lực giảng dạy cho giáo viên; Đồng thời nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lý và giáo viên về hoạt động dạy học theo định hƣớng phát triển năng lực học sinh trong nhà trƣờng; tăng cƣờng chỉ đạo đổi mới phƣơng pháp dạy học theo định hƣớng phát triển năng lực học sinh; tăng cƣờng quản lý việc thực hiện chƣơng trình, kế hoạch dạy học của giáo viên, tổ chuyên môn; tăng cƣờng xây dựng và sử dụng cơ sở vật chất, thiết bị dạy học; khai thác hiệu quả công nghệ thông tin trong quản lý hoạt động dạy học. Nguyễn Kim Oanh, (2017), Luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục, “Quản lý hoạt động giáo dục của giáo viên theo hƣớng tích hợp ở các trƣờng tiểu học huyện Phú Xuyên, Hà nội”. Đậu Thị Hoa (2018), “Nâng cao năng lực dạy học cho giáo viên tiểu học theo định hƣớng phát triển năng lực học sinh”.
Tạp chí Giáo dục, Số 426 (đợt 2 - 3/2018), 7 tác giả bàn về năng lực dạy học của giáo viên tiểu học và đề xuất một số biện pháp nâng cao năng lực dạy học theo định hƣớng phát triển năng lực học tập sinh ra. [trang 17-20] Ngoài ra còn có các luận văn của một số tác giả nhƣ: Nguyễn Duy Hƣng, Luận án Tiến sĩ quản lý giáo dục (2014), “Quản lý chất lƣợng đào tạo cán bộ giáo dục đáp ứng yêu cầu giáo dục hiện nay”, luận án nghiên cứu về vị trí, vai trò của hệ thống cơ sở giáo dục. Phòng bồi dƣỡng cán bộ quản lý cơ sở giáo dục nhằm nâng cao chất lƣợng quản lý đội ngũ cán bộ quản lý của các cơ quan, đơn vị giáo dục trong giai đoạn hiện nay. Nguyễn Thị Thắm, Luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục, Hà Nội 2015, “Quản lý hoạt động dạy học ở trƣờng THCS huyện Đông Hƣng, tỉnh Thái Bình”, Luận văn nghiên cứu lý luận về quản lý hoạt động dạy học ở trƣờng THCS và thực tiễn quản lý hoạt động dạy học ở các trƣờng học trên địa bàn huyện Đông Hƣng, tỉnh Thái Bình và đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục.
Về phƣơng pháp dạy học Tiếng Việt, có thể liệt kê một số tài liệu nhƣ: Một số vấn đề cơ bản của chƣơng trình tiểu học mới - Đỗ Đình Hoan. - Tài liệu tham khảo dành cho giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục tiểu học về dạy học phát huy tính tích cực của học sinh môn Toán và Tiếng Việt - Bộ Giáo dục và Đào tạo. - Giáo trình về Phƣơng pháp dạy học Tiếng Việt - Lê Phƣơng Nga, Đỗ Xuân Thảo, Lê Hữu Tình. Tuy nhiên, những tài liệu này chủ yếu dành cho cấp tiểu học.
Ngoài ra còn có các luận văn thạc sĩ liên quan đến công tác quản lý dạy học tiếng Việt cấp quận, huyện nhƣ: 6 - Biện pháp chỉ đạo đổi mới phƣơng pháp dạy học tiếng Việt tiểu học quận Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh - Trần Thị Sáu ( 2006) - Biện pháp quản lý hoạt động dạy học đối với trƣờng tiểu học của Phòng Giáo dục Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh - Nguyễn Thanh Tịnh (2006). - Biện pháp quản lý hoạt động dạy học ở trƣờng tiểu học của Phòng GD & ĐT quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng - Đặng Minh Hằng (2009). Để phát triển chất lƣợng giáo dục tiểu học, không thể không chú trọng đến môn tiếng Việt.
Tuy nhiên, trong các công trình nghiên cứu, vấn đề quản lý dạy học môn tiếng Việt theo hƣớng phát triển năng lực ngôn ngữ cho học sinh tiểu học, cụ thể là trong khu vực miền núi nhƣ Gia Lai vẫn chƣa đƣợc chú ý tới. Nhờ sự kế thừa những kết quả của các công trình nghiên cứu trên, việc nghiên cứu xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài quản lý hoạt động dạy học tiếng Việt cho học sinh trƣờng tiểu học, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai góp phần thực hiện tốt hơn nữa công tác phát triển giáo dục theo định hƣớng chƣơng trình phổ thông năm 2018, phát triển giáo dục miền núi đặc biệt. Các khái niệm chính của đề tài 1. Khái niệm về quản lý Quản lý là một hoạt động độc đáo của con ngƣời.
Hoạt động quản lý xuất hiện khi con ngƣời biết chung sống thành nhóm ngƣời, cộng đồng để săn bắt hái lƣợm hay cao hơn là lao động sản xuất tạo ra của cải vật chất để duy trì và phát triển cộng đồng xã hội. Trong quá trình lao động sản xuất đã có sự phân công công việc, có sự quản lý, điều hành để đạt kết quả cao nhất. Và theo từng thời điểm lịch sử, từng chế độ xã hội và nghề nghiệp, khái niệm quản lý còn đƣợc hiểu theo những nghĩa khác nhau: Theo C.Mác: “Quản lý là lao động điều khiển lao động”.Mác viết: “Bất cứ công việc lao động hay lao động chung nào được thực hiện trên quy mô lớn đều cần phải có sự chỉ đạo hài hòa các hoạt động của từng cá nhân… Một nhạc công độc tấu thì tự điều khiển, nhưng dàn nhạc phải có nhạc trưởng.” [8] Harold Koontz khẳng định: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu đảm bảo sự phối hợp các nỗ lực của từng cá nhân để đạt được các mục tiêu của tổ chức.