Tổng quan nghiên cứu

Thị trường lao động công nghệ thông tin tại Việt Nam đang đối mặt với sự mất cân đối nghiêm trọng giữa quy mô và chất lượng đào tạo. Theo thống kê của VietnamWorks, nhu cầu tuyển dụng nhân sự ngành công nghệ thông tin tăng trung bình 47%/năm, trong đó số lượng công ty phần mềm tăng tới 124%. Tính toán từ các báo cáo chuyên ngành cho thấy đến năm 2020, Việt Nam cần khoảng 1,2 triệu nhân lực công nghệ thông tin nhưng mức độ thiếu hụt lên tới 500.000 người, đồng nghĩa nguồn cung chỉ đáp ứng khoảng 58% nhu cầu thực tế. Đáng báo động hơn, số liệu từ Viện Chiến lược Công nghệ thông tin chỉ ra rằng chỉ 15% sinh viên tốt nghiệp có thể làm việc ngay, trong khi 72% thiếu kinh nghiệm thực hành thực tế.

Trước bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 và làn sóng đầu tư hàng trăm tỷ USD từ các tập đoàn công nghệ toàn cầu, việc nâng cao chất lượng quản lý đào tạo sau đại học, đặc biệt là bậc thạc sĩ, trở thành nhiệm vụ cấp bách. Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động đào tạo trình độ thạc sĩ ngành Công nghệ thông tin tại Học viện Khoa học và Công nghệ thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Mục tiêu cụ thể là hệ thống hóa cơ sở lý luận, khảo sát đánh giá thực trạng các khâu quản lý đào tạo tại đơn vị, nhận diện các yếu tố ảnh hưởng và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý đào tạo. Phạm vi không gian nghiên cứu đặt tại Học viện Khoa học và Công nghệ trong giai đoạn 2016-2019, trực tiếp tác động đến quy trình quản trị đào tạo cho hơn 400 học viên cao học cùng đội ngũ 45 giảng viên chuyên ngành công nghệ thông tin.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự tích hợp của các lý thuyết quản trị kinh điển và mô hình quản lý giáo dục hiện đại. Trọng tâm là lý thuyết quản trị hành chính của Henri Fayol với năm chức năng cơ bản gồm lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát; kết hợp cùng lý thuyết quản trị tri thức của Peter Drucker nhằm giải quyết bài toán phát huy năng lực trí tuệ của đội ngũ lao động trình độ cao. Bên cạnh đó, khung đánh giá chất lượng giáo dục CIMO (Bối cảnh - Đầu vào - Quá trình - Đầu ra) do UNESCO đề xuất được vận dụng làm nền tảng xem xét toàn diện quá trình đào tạo.

Hệ thống khái niệm nòng cốt trong luận văn bao gồm: hoạt động đào tạo (sự thống nhất giữa quá trình dạy và học nhằm truyền thụ tri thức chuyên môn và rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp); quản lý hoạt động đào tạo (tác động có mục đích của chủ thể quản lý đến các thành tố của quá trình đào tạo); đào tạo trình độ thạc sĩ (bậc đào tạo sau đại học chuyên sâu nhằm nâng cao năng lực nghiên cứu độc lập và ứng dụng thực tiễn); và công nghệ thông tin theo Luật Công nghệ thông tin năm 2006. Khung pháp lý của nghiên cứu bám sát Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục - đào tạo, Quyết định số 1691/QĐ-TTg ngày 22/9/2014 của Thủ tướng Chính phủ thành lập Học viện Khoa học và Công nghệ, cùng các quy chế đào tạo thạc sĩ hiện hành của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của đề tài được thu thập từ tài liệu lưu trữ nội bộ, văn bản quản lý và số liệu khảo sát thực chứng được tiến hành trong tháng 4 và tháng 5 năm 2019. Cỡ mẫu khảo sát gồm 68 phiếu phát ra và thu về 65 phiếu hợp lệ (tỷ lệ phản hồi đạt 95,59%). Khách thể khảo sát được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu có chủ đích phân tầng, bao gồm 12 cán bộ lãnh đạo các Khoa, 8 cán bộ lãnh đạo Học viện và phòng chức năng, 42 giảng viên trực tiếp giảng dạy tại Khoa Công nghệ thông tin và Viễn thông, cùng 3 chuyên viên chuyên trách quản lý đào tạo. Phương pháp chọn mẫu này đảm bảo tính đại diện cao cho toàn bộ các chủ thể tham gia vào chu trình quản lý đào tạo ngành công nghệ thông tin.

Nghiên cứu kết hợp phương pháp định tính và định lượng. Dữ liệu định lượng từ bảng hỏi được xử lý bằng phương pháp thống kê mô tả, tính điểm trung bình trên thang đo Likert 4 mức độ đối với thực trạng quản lý và thang đo 3 mức độ đối với các yếu tố ảnh hưởng. Dữ liệu định tính được thu thập qua phỏng vấn sâu trực tiếp các chuyên gia quản lý và quan sát thực tế. Việc kết hợp này giúp phân tích sâu sắc mối quan hệ nhân quả giữa cơ chế điều hành và chất lượng đầu ra của học viên trong môi trường viện nghiên cứu đặc thù.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả điều tra thực nghiệm đã chỉ ra những điểm sáng và nút thắt cốt lõi trong công tác quản lý đào tạo thạc sĩ ngành công nghệ thông tin:

Thứ nhất, việc quản lý mục tiêu đào tạo đạt mức đánh giá chung tương đối khả quan với điểm trung bình 3,11/4,00. Trong đó, tiêu chí rèn luyện khả năng nghiên cứu độc lập và sáng tạo đạt điểm cao nhất là 3,20/4,00 (xếp hạng 1); tiêu chí vận dụng kiến thức vào thực tiễn và thực hành kỹ thuật hiện đại đều đạt 3,17/4,00. Tuy nhiên, tiêu chí phát triển khả năng quản lý, đánh giá và cải tiến hoạt động công nghệ thông tin chỉ đạt 2,98/4,00 (xếp hạng thấp nhất).

Thứ hai, công tác quản lý nội dung chương trình đào tạo bộc lộ sự phân hóa rõ rệt với điểm trung bình tổng thể là 2,82/4,00. Khâu tổ chức thực hiện nội dung được thực hiện tốt nhất với điểm số 3,11/4,00 (xếp hạng 1), tiếp theo là xây dựng kế hoạch đào tạo đạt 3,06/4,00 (xếp hạng 2). Ngược lại, khâu kiểm tra, đánh giá và điều chỉnh nội dung bị đánh giá yếu nhất khi chỉ đạt 2,40/4,00, thấp hơn 22,8% so với khâu tổ chức thực hiện.

Thứ ba, Học viện sở hữu tiềm lực khoa học công nghệ vượt trội với mạng lưới hơn 1.000 giảng viên gồm 70 Giáo sư, 230 Phó Giáo sư và 760 Tiến sĩ, Tiến sĩ khoa học. Riêng Khoa Công nghệ thông tin và Viễn thông quy tụ 45 giảng viên chất lượng cao (5 Giáo sư, 18 Phó Giáo sư, 22 Tiến sĩ). Năng lực nghiên cứu thể hiện qua sự tăng trưởng vượt bậc về công bố quốc tế: năm 2016 có 47 bài (42 bài ISI), năm 2017 tăng lên 212 bài (110 bài ISI), và năm 2018 đạt 338 bài (199 bài ISI), đưa đơn vị xếp thứ 7 toàn quốc về công bố trên hệ thống Scopus.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến điểm số thấp ở khâu kiểm tra và đánh giá chương trình (2,40/4,00) xuất phát từ tính chất đặc thù của mô hình liên kết. Do Học viện được thành lập năm 2014 và hoạt động đào tạo thạc sĩ mới triển khai tập trung từ năm 2017, hệ thống công cụ đo lường chất lượng chưa kịp hoàn thiện và thiếu cơ sở dữ liệu dài hạn về sản phẩm đầu ra. Mô hình quản trị phân tán khi Khoa Công nghệ thông tin và Viễn thông là sự kết hợp của 3 viện nghiên cứu chuyên ngành (Viện Công nghệ thông tin, Viện Công nghệ Viễn thông, Viện Cơ học và Tin học ứng dụng) tạo ra rào cản về cơ chế phối hợp kiểm tra định kỳ.

Khi biểu diễn dữ liệu qua biểu đồ mạng nhện hoặc bảng so sánh đối sánh giữa các thành tố quản lý, có thể thấy rõ độ lệch giữa năng lực học thuật đầu vào (đội ngũ hơn 1.000 cán bộ khoa học trình độ cao và 4 phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia) với mức độ hoàn thiện của quy trình kiểm định nội bộ. Trong khi thị trường lao động đòi hỏi 100% nhân lực hiểu rõ thực tiễn ngành nghề, phương thức tổ chức đào tạo tại đơn vị vẫn chủ yếu dựa vào diễn giảng truyền thống thay vì tối ưu hóa hệ thống đào tạo trực tuyến E-Learning và giải quyết bài toán thực tế của doanh nghiệp.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hoàn thiện công tác quản lý đào tạo thạc sĩ ngành Công nghệ thông tin tại Học viện, bốn nhóm giải pháp đồng bộ được đề xuất:

Thứ nhất, chuẩn hóa và số hóa quy trình kiểm định chất lượng đào tạo. Ban Giám đốc Học viện phối hợp cùng Phòng Đảm bảo chất lượng xây dựng bộ tiêu chí đánh giá chuẩn đầu ra định kỳ, đưa điểm đánh giá khâu kiểm tra từ mức 2,40 lên trên 3,20 điểm. Triển khai đồng bộ hệ thống quản lý học tập E-Learning và số hóa 100% hồ sơ học vụ trong lộ trình 12 tháng giai đoạn 2020-2021.

Thứ hai, đổi mới nội dung chương trình đào tạo theo hướng thực hành ứng dụng. Khoa Công nghệ thông tin và Viễn thông cần rà soát khung chương trình, nâng thời lượng thực hành và nghiên cứu ứng dụng lên tối thiểu 35% tổng khối lượng kiến thức. Tận dụng tối đa 4 phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia và trang thiết bị chuyên dụng tại Viện Công nghệ thông tin để học viên trực tiếp tham gia vào các đề tài khoa học thực tế, hoàn thành trong 18 tháng.

Thứ ba, hoàn thiện cơ chế điều phối liên viện và chính sách đãi ngộ giảng viên. Phòng Tổ chức Hành chính và Truyền thông tham mưu ban hành quy chế phối hợp chi tiết giữa Học viện với 3 Viện nghiên cứu chuyên ngành. Thiết lập chính sách khen thưởng và phân bổ kinh phí giảng dạy thỏa đáng nhằm khuyến khích 45 cán bộ khoa học thuộc Khoa dành thời gian hướng dẫn nghiên cứu, giảm 50% thời gian xử lý thủ tục hành chính kiêm nhiệm trước năm 2021.

Thứ tư, thiết lập hệ thống theo dõi học viên sau tốt nghiệp (Alumni Tracking). Phòng Quản lý Đào tạo chủ trì xây dựng mạng lưới cựu học viên, phấn đấu thu thập dữ liệu việc làm của trên 90% thạc sĩ sau 6 tháng tốt nghiệp. Định kỳ 2 năm một lần lấy ý kiến phản hồi từ các đơn vị sử dụng lao động để làm căn cứ cập nhật chương trình đào tạo sát với nhu cầu thị trường.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung nghiên cứu mang giá trị thực tiễn sâu sắc cho bốn nhóm đối tượng:

Cán bộ quản lý giáo dục đại học và sau đại học: Tiếp cận mô hình quản trị đào tạo đặc thù gắn kết trực tiếp giữa cơ sở giáo dục đại học và các viện nghiên cứu chuyên ngành, rút ra bài học kinh nghiệm trong việc phân định trách nhiệm quản lý nhân sự kiêm nhiệm.

Lãnh đạo Khoa và giảng viên ngành Công nghệ thông tin: Tham khảo phương pháp xây dựng chuẩn đầu ra, tích hợp hoạt động công bố khoa học quốc tế (ISI/Scopus) vào quá trình hướng dẫn luận văn và phân bổ tỷ trọng môn học hợp lý.

Học viên cao học và nghiên cứu sinh: Nắm vững các tiêu chuẩn nghiên cứu khoa học độc lập, định hình phương pháp khai thác trang thiết bị phòng thí nghiệm chuyên sâu và thư viện số để nâng cao chất lượng luận văn tốt nghiệp.

Nhà hoạch định chính sách khoa học và giáo dục: Sử dụng luận cứ khoa học để xây dựng cơ chế tự chủ, chính sách đầu tư hạ tầng công nghệ phục vụ đào tạo nhân lực chất lượng cao trong kỷ nguyên chuyển đổi số.

Câu hỏi thường gặp

Mô hình đào tạo thạc sĩ tại Học viện Khoa học và Công nghệ có điểm gì khác biệt so với các trường đại học truyền thống? Điểm khác biệt nổi bật là Học viện đóng vai trò đầu mối điều phối hoạt động đào tạo của hơn 30 viện nghiên cứu chuyên ngành thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Giảng viên là các nhà khoa học trực tiếp làm công tác nghiên cứu, học viên được tiếp cận hệ thống phòng thí nghiệm hiện đại và nguồn đề tài nghiên cứu thực tế ngay tại các viện chuyên ngành.

Đâu là mắt xích yếu nhất trong chu trình quản lý đào tạo thạc sĩ ngành Công nghệ thông tin tại đơn vị? Khâu kiểm tra, đánh giá và điều chỉnh nội dung chương trình đào tạo là mắt xích yếu nhất, chỉ đạt điểm trung bình 2,40/4,00. Nguyên nhân do Học viện mới thành lập từ năm 2014 và bậc thạc sĩ bắt đầu đào tạo từ năm 2017 nên quy trình kiểm định chất lượng nội bộ chưa được chuẩn hóa toàn diện và thiếu dữ liệu phản hồi từ học viên sau tốt nghiệp.

Đội ngũ giảng viên ngành Công nghệ thông tin tại Học viện được tổ chức và có quy mô như thế nào? Khoa Công nghệ thông tin và Viễn thông được thành lập trên cơ sở liên kết 3 viện chuyên ngành: Viện Công nghệ thông tin, Viện Công nghệ Viễn thông, Viện Cơ học và Tin học ứng dụng. Toàn Khoa có 45 giảng viên cơ hữu và kiêm nhiệm trình độ cao, bao gồm 5 Giáo sư, 18 Phó Giáo sư và 22 Tiến sĩ, Tiến sĩ khoa học.

Luận văn đã sử dụng phương pháp khảo sát nào và quy mô mẫu ra sao để đảm bảo độ tin cậy? Tác giả đã triển khai điều tra bằng bảng hỏi và phỏng vấn sâu trực tiếp trong tháng 4-5/2019 với quy mô 68 phiếu phát ra, thu về 65 phiếu hợp lệ (đạt tỷ lệ 95,59%). Khách thể bao gồm 12 lãnh đạo khoa, 8 cán bộ quản lý học viện, 42 giảng viên công nghệ thông tin và 3 chuyên viên, áp dụng thang đo Likert tiêu chuẩn để phân tích định lượng.

Giải pháp then chốt nào giúp khắc phục tình trạng sinh viên thiếu kinh nghiệm thực hành khi theo học thạc sĩ? Giải pháp trọng tâm là tái cấu trúc chương trình đào tạo theo hướng thực hành ứng dụng chiếm trên 35% thời lượng, gắn kết học viên trực tiếp vào các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học tại 4 phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia, đồng thời xây dựng hệ thống đào tạo trực tuyến E-Learning để tăng cường tương tác thực hành trên máy.

Kết luận

Nghiên cứu mang lại những đóng góp khoa học và thực tiễn quan trọng:

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về quản lý hoạt động đào tạo trình độ thạc sĩ ngành Công nghệ thông tin theo các chuẩn mực quản trị hiện đại.
  • Đánh giá thực trạng quản lý đào tạo thạc sĩ tại Học viện Khoa học và Công nghệ thông qua bộ dữ liệu thực chứng 65 chuyên gia, chỉ rõ điểm mạnh về mục tiêu nghiên cứu (3,11/4,00).
  • Nhận diện chính xác hạn chế trong khâu kiểm tra đánh giá chương trình (2,40/4,00) và sự thiếu hụt kết nối với thị trường lao động.
  • Khai thác tiềm lực vượt bậc của đội ngũ hơn 1.000 cán bộ khoa học và kết quả công bố quốc tế (338 bài năm 2018) vào nâng cao chất lượng đào tạo.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp mang tính khả thi cao nhằm hoàn thiện quy trình quản trị, đổi mới chương trình và nâng cao năng lực thực hành cho người học.

Lộ trình triển khai các giải pháp được xác định từ năm 2020 đến năm 2022, tập trung vào số hóa quản lý và chuẩn hóa kiểm định. Các nhà quản lý giáo dục và đơn vị đào tạo sau đại học cần nhanh chóng ứng dụng khung giải pháp này để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực công nghệ thông tin, đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế số.