Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ 5 – 6 tuổi ở các trường mầm non theo hướng phối hợp các lực lượng giáo dục. - Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động CSGD trẻ 5 – 6 tuổi ở các trường MN huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình theo hướng phối hợp các lực lượng giáo dục. - Chương 3: Biện pháp Quản lý hoạt động CSGD trẻ 5 – 6 tuổi ở các trường MN huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình theo hướng phối hợp các lực lượng giáo dục. 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CHĂM SÓC, GIÁO DỤC TRẺ 5 - 6 TUỔI Ở CÁC TRƢỜNG MẦM NON THEO HƢỚNG PHỐI HỢP CÁC LỰC LƢỢNG GIÁO DỤC 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các n h ên cứu trên thế ớ Hoạt động CSGD và quản lý hoạt động CSGD trẻ mầm non là một vấn đề được rất nhiều nhà xã hội học, tâm lý học và giáo dục học quan tâm, tìm hiểu và nghiên cứu. Trong các nghiên cứu của một số nhà tâm lý học, giáo dục học nổi tiếng tại Xô - Viết như: Levitov A.V (2000), … đã khẳng định nền tảng của nhân cách một con người đều bắt đầu từ gốc rễ gia đình. Trong quá trình xã hội hoá của mỗi con người, sự giáo dục của gia đình đóng vai trò cơ bản và quyết định.
Gia đình là môi trường chủ yếu hình thành nên nhân cách của cá nhân. Tại gia đình, trẻ được nuôi dưỡng, chăm sóc, được dạy bảo những điều đầu tiên, sơ đẳng để sống và làm người. Các tác giả đều nhấn mạnh, để việc giáo dục có hiệu qủa thì cần phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường và cộng động nhằm tạo môi trường giáo dục có tính đồng bộ, thống nhất và toàn diện, qua đó góp phần quan trọng trong việc hình thành nhân cách, điều chỉnh hành vi của đối tượng được giáo dục [dẫn theo 1]. (1978), trong cuốn “Nói chuyện về giáo dục gia đình” đã chỉ rõ sự ảnh hưởng của cha mẹ trong việc giáo dục con cái.
Ông đặc biệt nhấn mạnh về sự đồng nhất quan điểm giáo dục của cha với mẹ, của mọi người trong gia đình và sự đồng nhất quan điểm đối với phương pháp giáo dục gia đình và nhà trường. Ông cho rằng, việc giáo dục trẻ vị thành niên phải được bắt đầu ngay từ tuổi MN. Nếu trẻ không được gia đình giáo dục ngay từ đầu thì việc cải tạo sẽ tốn rất nhiều công sức không chỉ của gia đình, mà của cả xã hội. (1989) trong cuốn “Hoạt động, Ý thức, Nhân cách” đã khẳng định các yếu tố ảnh hưởng đến nhân cách con người trong đó yếu tố về mặt sinh học di truyền đươc coi là cơ sở và yếu tố môi trường gia đình ảnh hưởng lớn 6 đến sự phát triển mỗi cá nhân.
Ông nhấn mạnh hoạt động của mỗi cá nhân sẽ trở nên tích cực hơn và hiệu quả hơn khi cá nhân được môi trường giáo dục gia đình và nhà trường cộng tác đồng nhất. Ngoài ra, tác giả của cuốn sách cũng khẳng định vai trò của cộng đồng và xã hội tác động không nhỏ đến ý thức của mỗi cá nhân dẫn đến nảy sinh hành động, từ đó tạo ra thói quen, để dần hình thành nhân cách của mỗi con người. Hiện nay, trong xu thế phát triển của chung của xã hội, khi chúng ta đang sống trong một “thế giới phẳng”, mỗi công dân sẽ trở thành “công dân toàn cầu” thì những nguy cơ tiêu cực ảnh hưởng đến sự phát triển của con người luôn tiềm ẩn, điều đó, đòi hỏi tính cấp thiết của việc phối hợp giữa gia đình cùng nhà trường và các lực lượng xã hội khác trong giáo dục lại càng cần phải được chú trọng hơn bao giờ hết. Hoạt động phối hợp này là nhiệm vụ đầy thách thức đối với mỗi nhà trường.
Theo một số công trình nghiên cứu ở phương Tây như: Nhóm chuyên gia gồm: Hujala, Turja, Gaspar, Veisson, & Waniganayake (2009) có nghiên cứu “Nhận thức của GV MN về mối quan hệ gia đình - nhà trường tại 5 nước châu 6 Âu”; Pirchio, Tritrini, Taeschner, & Passiatore (2013) có công trình “Vai trò của mối quan hệ giữa phụ huynh và nhà giáo dục cho hành vi và hạnh phúc của trẻ em”. Đề tài cấp thiết ở lĩnh vực giáo dục mầm non như: Ebbeck & Waniganayake, (2003) có nghiên cứu “Ngành giáo dục mầm non: Dẫn đầu hôm nay và ngày mai”, NXB MacLennan; nhóm tác giả Woodruff & Brien, (2005) với nghiên cứu “Ngành Giáo dục mầm non: Dẫn đầu hôm nay và ngày mai”, NXB Elsevier. Nghiên cứu giải pháp, mô hình phối hợp giữa gia đình, nhà trường và cộng đồng trong giáo dục Pena, Silva, Claro, Gamarra, & Parra, (2008) trong nghiên cứu “Giao tiếp với cha mẹ và gia đình La tinh” đã đề xuất các giải pháp phối hợp bao gồm: - Đến nhà học sinh để tìm hiểu, trao đổi các thông tin liên quan. - Thành lập đội tình nguyện chuyên trách việc kết nối với phụ huynh nhằm tạo ra các kênh thông tin liên lạc.
- Phát triển hình thức ghi chú trong các cuộc họp về phối hợp. - Lên kế hoạch thường xuyên cho những hội thảo, sự kiện và hoạt động căn cứ 7 trên sở thích của phụ huynh. Cung cấp hỗ trợ về phương tiện đi lại cũng như dịch vụ chăm sóc góp phần thu hút sự tham gia của cha mẹ học sinh. - Nỗ lực thiết lập mối liên hệ với lãnh đạo các cộng đồng nhằm tạo dựng lòng tin.
- Luôn duy trì giả thiết rằng các phụ huynh luôn muốn tham gia và khuyến khích sự hợp tác tích cực. Một nghiên cứu của University, T. (2017) “Hoạt động tham gia của phụ huynh cải thiện kết quả đầu ra cho trẻ MN” đã phân tích việc hiểu rõ được thời lượng tham gia của bố mẹ và hình thức tham gia như thế nào là phù hợp vì mức độ thường xuyên của sự liên hệ có mối quan hệ chặt chẽ đến chất lượng phối hợp giữa các lực lượng giáo dục. Xôrôkina (1979), trong cuốn “Giáo dục học MN” (Tập II) đã đưa ra vấn đề cụ thể về mối quan hệ hợp tác giữa gia đình và nhà trường trong công tác giáo dục trẻ.
Xôrôkina cho rằng, các bậc phụ huynh có thể đến thăm trường bất cứ lúc nào để xem các con tham gia các hoạt động như thế nào, tìm hiểu nội dung và phương pháp giáo dục của nhà trường, quan sát công việc của cô giáo, phương pháp tác động đến trẻ của cô giáo và kết quả của những phương pháp ấy. Điều đó không gây khó khăn cho nhà trường mà lại có lợi đối với các phụ huynh. Khi quan sát trẻ hoạt động ở trường, các bậc phụ huynh bắt đầu hiểu, đánh giá được vai trò của nhà trường trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ em và có những biện pháp giáo dục con phù hợp tại gia đình. Về phía nhà trường nên trao đổi với phụ huynh, lắng nghe những đề nghị, ý kiến phê bình và đề xuất của họ để có những phương pháp chăm sóc giáo dục giáo dục phù hợp.
Vào những năm đầu thế kỷ XXI, tại Châu Á một số nước phát triển như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Ôxtrâylia, Singapore,. đều tập trung cải cách chương trình giáo dục nhằm đổi mới toàn diện nền giáo dục trong đó có giáo dục mầm non. Khuynh hướng cải cách giáo dục là tập trung thu hút và tăng cường sự phối hợp các lực lượng giáo dục. Tác giả Laura Brannelly và Joan Sullivan - Owomoyela trong cuốn “Thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng đóng góp cho giáo dục trong các điều kiện xung đột” đã đề cập đến việc tham gia của cộng đồng và phát triển mô hình cộng đồng tham gia vào giáo dục ở các nước Jordan, Afghanistan, Iraq, Liberia, Uganda và vùng lãnh thổ Palestine; các tác giả đã khẳng định tầm quan trọng và vai trò của 8 cộng đồng, đặc biệt là gia đình trong việc tham gia vào các hoạt động giáo dục trong bối cảnh tái thiết đất nước sau xung đột và xây dựng lại giáo dục.
Tại Australia, bộ khung hướng dẫn việc phối hợp giữa gia đình, nhà trường và cộng đồngtrong chăm sóc giáo dục trẻ “Government, 2008” đã được biên soạn bởi các cơ quan Nhà nước cấp quốc gia (Hội đồng các tổ chức trường học Australia - ACSSO, Hội phụ huynh Australia - APC), chính phủ Úc cùng với các bên liên quan nhằm phát triển sự liên kết, phối hợp giữa nhà trường và gia đình, xã hội. Bộ khung đưa ra khung hợp tác giữa gia đình và nhà trường và xã hội, trong đó hướng dẫn rõ cách thức hợp tác cùng giáo dục. Bộ hướng dẫn này bao gồm: - Tầm nhìn cho việc cải thiện sự hợp tác giữa gia đình và nhà trường tại Australia. - Một bộ nguyên tắc hướng dẫn gia đình và nhà trường phát triển sự hợp tác.
- 7 định hướng quyết định cho sự phối hợp hiệu quả giữa gia đình và nhà trường. - Một bộ các chiến lược hướng dẫn thực tế cho cộng đồng và hệ thống nhà trường trong việc thực thi và phát triển mối quan hệ gia đình - nhà trường. Bộ hướng dẫn chỉ ra 7 khía cạnh quan trọng góp phần vào sự phát triển mối quan hệ giữa gia đình, nhà trường và cộng đồng trong việc chăm sóc, giáo dục học sinh: (1) Giao tiếp; (2) Kết nối học tập ở nhà và trường học; (3) Xây dựng cộng đồng và dấu ấn cá nhân; (4) Nhận thức được vai trò của gia đình; (5) Ra quyết định mang tính tư vấn; (6) Phối hợp ngoài nhà trường; (7) Tham gia. Các n h ên cứu ở V ệt Nam Trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, giáo dục luôn đóng vai trò quan trọng như một trụ cột cơ bản của việc xây dựng và vun đắp cho nền văn hiến lâu đời của đất nước.
Để gánh vác trách nhiệm to lớn đó cần phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng giáo dục. Chủ tịch Hồ Chí Minh - vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới và cũng là nhà giáo dục lớn của Việt Nam. Trong bài phát biểu của Bác tại Hội nghị cán bộ Đảng trong ngành giáo dục tháng 6/1957 và cuốn “Hồ Chủ tịch bàn về giáo dục” (1962) đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phối hợp các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường: "Giáo dục trong nhà trường chỉ là một phần, còn cần có sự giáo dục ngoài xã hội và trong gia đình để giúp cho việc giáo dục trong nhà trường được tốt hơn.