Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC SƯ PHẠM CHO GIÁO VIÊN Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Nước ngoài Quản lý hoạt động bồi dưỡng NLSP cho GV hiện nay đang là vấn đề được các cấp quản lý giáo dục trên thế giới quan tâm.
Hoạt động này được thể hiện như sau: Tại Phần Lan, đất nước có nền giáo dục được đánh giá là “độc đáo nhất” hiện nay với chính sách “lấy GV là trung tâm” được phát huy tuyệt đối ở các trường và trong toàn ngành giáo dục thì vấn đề bồi dưỡng GV rất được chú trọng. Tại quốc gia này, hoạt động bồi dưỡng GV được giao quyền tự chủ ngay tại mỗi trường. Trong đó, Hiệu trưởng giữ vai trò rất quan trọng. Để đảm bảo việc chuyển đổi mục tiêu giáo dục từ “học cái gì” sang “học thế nào” thì người đứng đầu giáo dục ở Phần Lan - bà Anile cũng đã từng khẳng định vai trò của người Hiệu trưởng và của GV trong hoạt động bồi dưỡng và tự bồi dưỡng NLSP cho GV như sau: “Mỗi hiệu trưởng sẽ có một cách để GV học tập lẫn nhau, tạo ra cơ hội tự phát triển bản thân.
Từ một chương trình gọn nhẹ của cả nước, Hiệu trưởng và GV sẽ biến đổi cho phù hợp, chủ động xây dựng kế hoạch bài giảng, bài học cho mình” (http://hcmup. Tại Nhật Bản, GV giữ vai trò rất quan trọng trong việc bồi dưỡng và tự bồi dưỡng NLSP. Nội dung này thể hiện ở việc vào mỗi tuần các nhóm GV dự giờ lớp học của nhau và cùng nhau chuẩn bị các bài giảng. Trong bồi dưỡng GV, Nhật bản còn chú trọng việc bồi dưỡng trực tiếp tại các trường phổ thông với sự tham gia của giảng viên đến từ các trường đại học, các GV có trình độ chuyên môn cao và nhiều kinh nghiệm (Nguyễn Lộc, Đào Thái Lai, Nguyễn Thị Hồng Vân, 2011).
Các giảng viên đào tạo GV phải có thời gian nghiên cứu tại các trường phổ thông. Hình thức “Nghiên cứu bài học” (lesson study) tại các trường phổ thông là một bài học thành công của Nhật Bản được nhiều nước ghi nhận. Vai trò quan trọng của hình thức này thể hiện ở việc nhà trường tăng cường bồi dưỡng GV thường xuyên, tăng cường năng lực tự học, tự nghiên cứu của GV trong hoạt động chuyên môn hằng ngày 9 (https://vietnammoi, 2017). Hoạt động này góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động bồi dưỡng, góp phần đảm bảo chất lượng GV theo trình tự cải tiến từng bước.
Tại Đức, bồi dưỡng GV do các trường thực hiện với nhiều chương trình, nhiều cấp độ bồi dưỡng rất đa dạng. Tại mỗi trường có hệ thống tư vấn hỗ trợ cho việc bồi dưỡng GV, có mạng bồi dưỡng trên Internet. Theo quy định, GV của Đức phải đạt được 10 năng lực nghề nghiệp thuộc 2 nhóm: Nhóm 1, năng lực dạy học gồm năng lực xây dựng kế hoạch bài học, năng lực hỗ trợ việc học của học sinh…); Nhóm 2, năng lực giáo dục gồm năng lực đánh giá kết quả học tập HS, năng lực đổi mới hình thức dạy học,. Tại Singapore, quốc gia nổi tiếng với chương trình “Nhà trường tư duy, quốc gia học tập” (Thinking Schools, Learning Nation) và chương trình “Dạy ít, học nhiều” (Teach less, learn more) nổi tiếng với nội dung bồi dưỡng GV rất chuyên nghiệp và hiện đại.
Chính phủ Singapore xây dựng Học viện Giáo dục quốc gia Singapore (NIE) thực hiện tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ GV và cán bộ lãnh đạo giáo dục. Việc đào tạo đội ngũ GV đạt chuẩn mà NIE theo đuổi đảm bảo các yêu cầu: 1- Đào tạo đội ngũ GV có khả năng liên tục sáng tạo kiến thức chứ không chỉ hấp thu kiến thức; 2 - Xây dựng đội ngũ GV có khả năng đề xuất phương pháp học tập hiệu quả chứ không chỉ truyền đạt những điều đã học; 3 - Xây dựng đội ngũ GV có khả năng kiến tạo môi trường học tập cho HS chứ không chỉ thực thi yêu cầu từ người khác; 4 - Xây dựng đội ngũ GV có khả năng kiến tạo nên các thế hệ học sinh phát triển cá tính riêng biệt chứ không chỉ là thành viên đơn thuần trong lớp; 5 - Xây dựng đội ngũ GV là những người dẫn đầu sự thay đổi trong giáo dục chứ không chỉ chạy theo sự đổi mới. Bên cạnh đó, lãnh đạo nhà trường phổ thông phải xây dựng được đội ngũ GV ưu tú, giàu kinh nghiệm làm nhiệm vụ hỗ trợ những GV khác nâng cao chuyên môn nghiệp vụ. Những GV cốt cán sẽ trực tiếp bồi dưỡng GV ít kinh nghiệm hơn, và những GV này tiếp tục giúp đỡ GV mới hơn phát triển năng lực.
Tại Philippin, hoạt động bồi dưỡng GV được tổ chức theo kế hoạch lần lượt vào dịp hè. Hè thứ nhất bồi dưỡng các nội dung môn học, nguyên tắc dạy học, tâm lý học và đánh giá. Hè thứ hai bồi dưỡng các môn học về quan hệ con người, triết học, 10 nội dung và phương pháp giáo dục. Hè thứ ba bồi dưỡng nghiên cứu giáo dục, viết tài liệu giám sát trong giáo dục.
Hè thứ tư bồi dưỡng kiến thức nâng cao, kỹ năng nhận xét, vấn đề lập kế hoạch giảng dạy,. Tại Hàn Quốc, nội dung bồi dưỡng thường chú ý đến kiến thức mới, phương pháp giảng dạy tiên tiến và phổ biến trên thế giới, thời lượng bồi dưỡng GV kéo dài đến 182 giờ. Chương trình bồi dưỡng GV được thiết kế phù hợp với đối tượng và mục đích bồi dưỡng, bao gồm: bồi dưỡng về xây dựng chương trình giảng dạy, đào tạo số hóa thông tin, dữ liệu, bồi dưỡng chung, bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm. Tại Mĩ, bồi dưỡng gắn với lộ trình phát triển cụ thể.
Giai đoạn 1: Các GV được khuyến khích tham gia tự nguyện và nhiệt tình, với những động cơ tích cực, GV luôn được khuyến khích sẵn sàng thực hiện những sự thử nghiệm, đổi mới trong dạy và học. Giai đoạn 2: Chi tiết hóa các chương trình bồi dưỡng, phát triển chuyên môn cho GV. Cụ thể bao gồm: Phát triển chuyên môn dựa trên chương trình môn học; phát triển chuyên môn thông qua hoạt động GV tập huấn cho GV. Giai đoạn 3: Tổ chức và thực hiện các chương trình phát triển chuyên môn GV đa tác dụng (http://etep.
Tại Malaysia, có 3 hình thức bồi dưỡng GV. Lớp bồi dưỡng tập trung trong hè về nghiệp vụ do Vụ Giáo dục GV hoặc do cơ quan thanh tra trường học tổ chức. Khoá bồi dưỡng từ 6 tháng đến 1 năm cho những GV đã dạy 5 năm, được lựa chọn, để trở thành cốt cán. Chương trình bồi dưỡng từ xa qua kênh truyền thông, có sự giúp đỡ của GV cốt cán ở địa phương, kết hợp với những buổi thuyết trình ở trường đại học.
Hình thức này dành cho những GV tốt nghiệp cao đẳng muốn nâng lên trình độ đại học (Trần Bá Hoành, 2016). Tóm lại, đa số các chương trình bồi dưỡng ở các nước thực hiện theo xu hướng đổi mới, tiến bộ, thống nhất trong toàn hệ thống và phát huy tối đa vai trò của người Hiệu trưởng. Đồng thời, ở các nhà trường tiểu học, GV cũng được tạo điều kiện thuận lợi về thời gian để phát huy hết khả năng của mình, học tập lẫn nhau, giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ. Trong nước Vấn đề bồi dưỡng GV hiện nay đang được các cơ quan quản lý giáo dục quan tâm.
Có thể thống kê như sau: Một số tác phẩm nghiên cứu hoạt động bồi dưỡng NLSP cho GV: Tác phẩm “Kỷ yếu Hội thảo Nâng cao năng lực tự học, tự nghiên cứu cho GV phổ thông đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục” xác định trọng tâm bồi dưỡng là nâng cao năng lực tự học, tự nghiên cứu cho GV phổ thông đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục “Mọi người đi học, học thường xuyên suốt đời; cả nước trở thành một xã hội học tập” (Viện nghiên cứu Giáo dục, 2013). Đề tài nghiên cứu cấp Bộ “Các giải pháp bồi dưỡng để nâng cao chất lượng đội ngũ GVTH đồng bằng sông Cửu Long” của tác giả Nguyễn Thị Quy đưa ra những biện pháp bồi dưỡng GVTH bằng những công việc cụ thể là đổi mới phương pháp dạy học và hoạt động hỗ trợ dạy học (Nguyễn thị Quy, 2008). Tác phẩm “Một số ý kiến về công tác bồi dưỡng GV” của tác giả Nguyễn Phước Bảo Khôi xác định tầm quan trọng của công tác bồi dưỡng GV đồng thời đã đưa ra một số biện pháp bồi dưỡng GV với mục đích để công tác bồi dưỡng GV có những chuyển biến tích cực trong tương lai. Một số kiến nghị được đưa ra như: Kết hợp đào tạo ban đầu và đào tạo liên tục, bồi dưỡng song song cả chuyên môn và nghiệp vụ.
Bồi dưỡng tại nơi làm việc cần phát triển thay thế dần bồi dưỡng tập trung theo cụm. Tăng cường sự tương tác giữa giảng viên các trường ĐHSP với tổ chuyên môn các trường trong hoạt động chuyên môn (Nguyễn Phước Bảo Khôi, 2015). Bài báo “Phát triển chương trình đào tạo, bồi dưỡng GV đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông Việt Nam” của hai tác giả Hoàng Thanh Tú và Ninh Thị Hạnh đưa ra một số đề xuất phát triển chương trình đào tạo, bồi dưỡng GV đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông ở Việt Nam. Gồm có: Học tập kinh nghiệm nước ngoài, cập nhật, điều chỉnh chương trình đào tạo, bồi dưỡng GV.
Tập trung vào 5 kĩ năng: nghiên cứu đối tượng dạy học, môi trường dạy học; lập kế hoạch dạy học, tổ chức triển khai dạy học; kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS; tự đánh giá cải tiến hoạt động dạy học, phát triển chuyên môn; xây dựng chương trình tập huấn, 12 tài liệu bồi dưỡng GV (Hoàng Thanh Tú, Ninh Thị Hạnh, 2017). Bài viết Giải pháp đào tạo GV theo định hướng năng lực đăng trên Tạp chí Giáo dục số 216 Đại học Thái Nguyên của tác giả Phạm Hồng Quan xác định “Năng lực GV chính là yếu tố cơ bản quyết định chất lượng giáo dục”, cách phân chia năng lực dạy học thành các năng lực thành phần và đưa ra các giải pháp đào tạo - bồi dưỡng GV (Phạm Hồng Quan, 2016). Tác phẩm Những đổi mới trong đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng GVTH ở một số nước của tác giả Trần Bá Hoành nhấn mạnh những nỗ lực cải tiến công tác đào tạo bồi dưỡng GVTH, tập trung vào mấy hướng chính như: Nâng cao trình độ học vấn của GVTH, nâng cao NLSP của GVTH, nâng cao động lực dạy học của GVTH; giới thiệu nội dung đào tạo của các nước như Malaysia, Nhật Bản, Thái Lan,.