Phần mở đầu - Phần nội dung gồm ba chƣơng: + Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động BDTX của đội ngũ GV trƣờng THCS. + Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động BDTX của đội ngũ GV các trƣờng THCS huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam. + Chƣơng 3: iện pháp quản lý hoạt động BDTX của đội ngũ GV các trƣờng THCS huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam. - Kết luận và khuyến nghị - Phụ lục - Tài liệu tham khảo 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƢỠNG THƢỜNG XUYÊN CỦA ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRƢỜNG THCS 1.
Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến đề tài 1. C nghi n ứu ở nướ ngoài Với xu thế phát triển giáo dục nhƣ hiện nay đã đặt ra những yêu cầu đổi mới đối với đội ngũ GV và các nhà quản lý giáo dục vì chính đội ngũ GV là nhân tố quan trọng đóng vai trò quyết định chất lƣ ng giáo dục. Ủy ban quốc tế về giáo dục thế kỷ XXI của UNESCO (1996) đã khẳng định: Thầy giáo là yếu tố quyết định hàng đầu đối với chất lƣ ng giáo dục. o đó, muốn phát triển giáo dục thì trƣớc hết và trên hết phải phát triển đội ngũ giáo viên cả về số lƣ ng và chất lƣ ng.
Từ đó cho thấy hoạt động bồi dƣỡng giáo viên rất đƣ c chú trọng và phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới. Năm 1998, trong công bố do UNESCO khu vực tổ chức tại Nepal về tổ chức quản lý trƣờng đại học đã khẳng định: bồi dƣỡng đội ngũ giáo viên là vấn đề cơ bản trong phát triển giáo dục. Các công trình nghiên cứu của M. Gonôbôlin… đã đề cập và làm sáng tỏ về vai trò, phẩm chất năng lực và những đặc điểm lao động của ngƣời GV.
Trong cuốn sách của tác giả N. ônđurep viết về chuẩn bị cho sinh viên làm công tác giáo dục ở trƣờng phổ thông”, tác giả đề cập đến vai trò kỹ năng sƣ phạm đối với nghề dạy học, trong đó đặc biệt nhấn mạnh những kỹ năng đó chỉ đƣ c hình thành và củng cố trong hoạt động thực tiễn của ngƣời thầy giáo” và theo tác giả những yêu cầu chuyên môn của ngƣời thầy giáo là không phải chỉ có những kiến thức phong phú mà còn phải có những kỹ năng cần thiết để tổ chức và thực hành công tác giáo dục. Muốn làm tốt công tác giáo dục cần phải có những kỹ năng giáo dục và thời gian. Michell eveley trong tác phẩm Một số vấn đề đào tạo giáo viên” có đề cập đến vấn đề đào tạo GV bao gồm nhiều nội dung nhƣ: quan niệm, nội dung, phƣơng thức đào tạo, tính chất và bản sắc nghề nghiệp… Đó là một cuốn sách góp phần đổi mới công tác bồi dƣỡng chuyên môn cho GV.
Hai tác giả ernhard Muszynsky và Nguyễn Thị Phƣơng Hoa trong tác phẩm Con đƣờng nâng cao chất lƣ ng và cải cách các cơ sở đào tạo giáo viên” đề cập đến bộ chuẩn cho các trƣờng cao đẳng sƣ phạm trong đó có những tiêu chuẩn chƣơng trình đào tạo và các hoạt động dạy học, chất lƣ ng sinh viên sau tốt nghiệp của trƣờng và nội dung này có liên quan đến bồi dƣỡng thƣờng xuyên ở các trƣờng 6 cao đẳng sƣ phạm. Ở Hàn Quốc, việc bồi dƣỡng thƣờng xuyên cho giáo viên là bắt buộc. ồi dƣỡng GV đƣơng nhiệm nh m trang bị cho GV lý luận và phƣơng pháp luận về giáo dục để nâng cao khả năng và hiệu quả giảng dạy trong lớp học. Các chƣơng trình đƣ c thiết kế riêng cho từng đối tƣ ng.
Chƣơng trình cũng đƣ c phân loại cho ph h p với mục đích , bao gồm: về soạn thảo chƣơng trình giảng dạy; đào tạo số hoá thông tin, dữ liệu; chung; bồi dƣỡng nghiệp vụ sƣ phạm,. Những ngƣời thực hiện chƣơng trình này sẽ quyết định nội dung và thời gian cho mỗi khoá. Nội dung thƣờng chú ý đến những kiến thức mới, những phƣơng pháp giảng dạy tiên tiến và phổ biến trên thế giới. Ở Nhật ản, có quy chế bắt buộc hàng năm đối với GV phổ thông mới vào nghề.
GV đƣơng nhiệm đƣ c b ng nhiều hình thức, ở nhiều cấp với phƣơng thức đổi mới, đa dạng. Chính sách đãi ngộ GV chủ yếu thể hiện qua lƣơng, phụ cấp, tr cấp. Mức tăng lƣơng dựa vào thành tích và thâm niên công tác, trung bình 1 năm hoặc 2 năm một lần. Ở Pháp quan niệm: Giảng dạy là một nghề đòi hỏi có trình độ chuyên sâu và đƣ c đào tạo về nghề nghiệp rất cao”.
Việc BDGV ở Pháp đƣ c thực hiện theo 3 hƣớng chính: Coi trọng việc tự nâng cao trình độ nghề nghiệp của GV; Tạo ra sự ph h p với công việc đối với tất cả GV đặc biệt là đối với GV dạy các môn mà lĩnh vực đó luôn có sự phát triển mạnh mẽ và các thiết bị trở nên lạc hậu; Định kì xác định những kiến thức sẽ phải đƣa vào tổng thể chƣơng trình bồi dƣỡng để tổ chức BDGV. Pháp luôn có sự chú trọng tới vấn đề BDGV, bởi họ luôn mong muốn có đội ngũ GV có chất lƣ ng cao nh m đảm bảo mục tiêu, kế hoạch G &ĐT. C nghi n ứu ở trong nướ ân tộc Việt Nam có truyền thống Tôn sƣ trọng đạo”, ngƣời dân đã ý thức đƣ c Nên th nên thầy vì có học”. Do đó, trong lịch sử phát triển của xã hội, vai trò của ngƣời thấy đƣ c coi trọng.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao vai trò của bồi dƣỡng, Ngƣời dạy r ng: ồi dƣỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”. ác cũng rất coi trọng vấn đề bồi dƣỡng và tự bồi dƣỡng. Ngƣời chỉ r : Về cách học, phải lấy tự học làm cốt”. Từ năm 1986, cả nƣớc bƣớc vào thời kỳ đổi mới toàn diện để thực hiện mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Đảng và Nhà nƣớc ta hết sức coi trọng đến sự phát triển giáo dục nh m tạo động lực phát triển kinh tế xã hội.
ắt đầu từ đây, việc đào tạo, bồi dƣỡng giáo viên có những chuyển biến tích cực nh m dần dần chuẩn 7 hoá đội ngũ này. Tuy nguồn ngân sách còn hạn hẹp, nhƣng Đảng và Nhà nƣớc đã coi công tác BDTX là rất cần thiết nh m nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên về chính trị, chuyên môn nghiệp vụ để đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lƣ ng giáo dục. ộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức các chƣơng trình BDTX theo chu kỳ ba năm cho giáo viên, trải qua ba chu kỳ BDTX 1992-1996, 1997-2000, 2003-2007 đã phần nào khẳng định đƣ c những kinh nghiệm bổ ích về hoạt động nâng cao năng lực sƣ phạm cho đội ngũ giáo viên phổ thông. Năm 1994, ộ G & ĐT đã lƣu hành nội dung bộ tập ài giảng bồi dƣỡng chuyên môn trung học cơ sở”.
Đây là tập bài giảng đề cập đề cập đến nhiều nội dung khác nhau trong việc dạy học THCS nhƣ: Các vấn đề quản lý giáo dục THCS, các vấn đề về tâm lý giáo dục, các vấn đề về kỹ năng dạy học. Đến nay, có nhiều đề tài nghiên cứu về vấn đề bồi dƣỡng GV nói chung, TX cho đội ngũ GV nói riêng. Vấn đề giáo viên - Những nghiên cứu lý luận và thực tiễn” của Trần á Hoành (2006) đã đề cập đến công tác đào tạo GV ở Việt Nam cũng nhƣ những kinh nghiệm nƣớc ngoài về đào tạo, bồi dƣỡng GV ở một số nƣớc châu Á, Đông Nam Á và ở Anh. Nghiên cứu của tác giả Phạm Đỗ Nhật Tiến (2013) trong cuốn sách Đổi mới đào tạo giáo viên trƣớc yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục Việt Nam” đã phân tích xu thế và một số mô hình đổi mới, cải cách đào tạo GV trên thế giới đồng thời đƣa ra những đổi mới đào tạo, bồi dƣỡng giáo viên ở Việt Nam theo định hƣớng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế.
Tài liệu Phát triển Giáo dục và đào tạo nhân tài của Nghiêm Đình Vỳ và Nguyễn Đắc Hƣng đã khẳng định Thầy giáo là quyết định hàng đầu đối với chất lƣ ng giáo dục, do đó muốn phát triển giáo dục thì trƣớc hết và trên hết phải phát triển đội ngũ giáo dục cả về số lƣ ng và chất lƣ ng”. Từ đó đƣa ra những nghiên cứu về những thời kỳ biến chuyển của giáo dục và đề nghị về những cải cách chƣơng trình đào tạo GV. Tác giả Đặng Quốc ảo cho r ng: ất cứ hoàn cảnh nào d khó khăn đến đâu, ngành giáo dục cũng tìm mọi biện pháp mở trƣờng, lớp (dài hạn, ngắn hạn, cấp tốc, tập trung, phân tán, nhóm nhỏ.) để đào tạo, bồi dƣỡng đội ngũ. Đồng thời tác giả cũng đƣa ra một số bài học về bồi dƣỡng đội ngũ GV.
Trong tài liệu Cẩm nang nâng cao năng lực và phát triển đội ngũ giáo dục” do Trần Quang Quý chỉ đạo biên soạn đã đề cập rất nhiều đến nghề thầy, ngƣời thầy, năng lực sƣ phạm và con ngƣời nâng cao năng lực sƣ phạm.