Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động các TTHTCĐ. Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động các TTHTCĐ ở huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ. Chương 3: Một số biện pháp quản lý hoạt động các TTHTCĐ trên địa bàn huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÁC TRUNG TÂM HỌC TẬP CỘNG ĐỒNG 1.
Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Lịch sử phát triển TTHTCĐ trên thế giới và ở Việt Nam Trên thế giới, TTHTCĐ phát triển sớm ở nhiều quốc gia như Nhật Bản, Thái Lan, Ấn Độ, Trung Quốc,. với nhiều hình thức đa dạng, nội dung hoạt động phong phú gắn liền với thực tiễn của mỗi đất nước. Có thể nói, Nhật Bản là nước đi đầu trong nghiên cứu và triển khai quản lý phát triển mô hình trung tâm HTCĐ trên thế giới.
Ra đời từ thế kỷ XVII, từ phong trào xóa mù chữ cho người dân, các địa phương đã tự tổ chức hình thành các cơ sở xóa mù chữ với tên gọi là Têrakôya. Đến sau đại chiến thế giới lần thứ hai, Bộ Giáo dục Nhật Bản hình thành mô hình giáo dục xã hội mới, gọi là Kôminkan. Quản lý phát triển các Kôminkan không những do nhu cầu của cộng đồng mà còn được người dân tham gia tích cực. Bên cạnh sự quản lý chỉ đạo của Nhà nước về Kôminkan còn có các phong trào của quần chúng với khẩu hiệu: Phát triển Kôminkan trước hết để xây dựng làng xã.
Chính nhờ những chủ trương đó mà Kôminkan phát triển không ngừng: năm 1947 mới chỉ có 3.537 trung tâm, đến năm 2002 là 17.947 và hiện nay trên khắp nước Nhật đã có 18.000 Kôminkan hoạt động dưới sự quản lý của Nhà nước trung ương và địa phương, 76.883 Kôminkan do người dân quản lý. Kôminkan đã phủ khắp 90% làng xã/thị trấn trên toàn quốc và trở thành nền móng vững chắc trong việc xây dựng cộng đồng. Điều đáng chú ý là việc quản lý phát triển các Kôminkan của Nhật Bản có quy mô thôn (làng), gắn liền với đời sống của cộng đồng dân cư thôn/làng. Tại Thái Lan, năm 1977 Chính phủ Thái Lan đã triển khai Đề án GDKCQ, trong đó đề cập ngay đến việc quản lý phát triển nhanh các trung tâm HTCĐ.
Đến năm 2006, Thái Lan đã phát triển được 7000 trung tâm HTCĐ cấp xã. Các trung tâm này chịu sự quản lý của dân làng. Trong các trung tâm có thư viện, phòng đọc sách báo, phòng hội họp, sinh hoạt câu lạc bộ, xem ti vi hoặc các sinh hoạt cộng đồng khác. Tại Ấn Độ, Chính phủ đã xác định muốn đẩy nhanh chiến lược xóa mù chữ, trước hết phải xây dựng được các cơ sở hạ tầng của giáo dục người lớn.
Năm 1988, 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chính phủ đã quyết định thành lập hàng loạt các trung tâm HTCĐ trong cả nước. Những trung tâm này chủ yếu do cộng đồng tự cam kết thành lập và quản lý, là nơi chính thức tổ chức các hoạt động XMC và giáo dục cộng đồng… Tóm lại, tùy theo điều kiện phát triển KT-XH của mỗi nước mà việc quản lý phát triển các trung tâm HTCĐ có khác nhau, nhưng đều chung một mục đích là làm sao có được những cơ sở giáo dục của cộng đồng để cho mọi người dân được học tập và HTSĐ. Một số nhà khoa học và nhà hoạch định chính sách của một số quốc gia như Myanmar, Thái Lan, Ấn độ, Banglades, Nhật Bản, Trung Quốc… đã nghiên cứu về quản lý phát triển các trung tâm HTCĐ và phương thức quản lý thích hợp nhất đối với quốc gia của mình. Các nghiên cứu đã chỉ ra Phương thức quản lý phát triển các TTHTCĐ là sự tổng hợp 2 hình thức quản lý: Quản lý công và tự quản.
Phương thức quản lý phát triển TTHTCĐ của Myanmar và Ấn Độ là quản lý công; của Thái Lan là Cộng đồng quản lý (tự quản lý); của Banglades và Trung Quốc là Quản lý dựa vào cộng đồng. Riêng tại Nhật Bản tồn tại song song hai phương thức quản lý TTHTCĐ là Quản lý dựa vào cộng đồng và Cộng đồng tự quản lý. Tại Việt Nam, việc nghiên cứu quản lý phát triển trung tâm HTCĐ đã được triển khai từ rất sớm. Năm 1995-1996, được sự hỗ trợ của UNESCO Băng Cốc, Trung tâm NC XMC và GDTX đã tổ chức thử nghiệm 4 trung tâm HTCĐ tại Cao Sơn (Hòa Bình), Pú Nhung (Lai Châu), Việt Thuận (Thái Bình) và An Lập (Bắc Giang).
Cũng trong thời gian này, Trung tâm NC XMC và GDTX đã tổ chức nghiên cứu đề tài cấp bộ: Xây dựng mô hình thí điểm trung tâm học tập cộng đồng cấp xã ở nông thôn Bắc bộ. Đây chính là viên gạch đầu tiên đặt nền móng cho việc quản lý phát triển các trung tâm HTCĐ ở Việt Nam. Sau đó, Bộ GD&ĐT đã cho phép triển khai đến các tỉnh và thành phố: Hà Nội, Lào Cai, Vĩnh Phúc, Tiền Giang, Long An. Tại hai huyện Tủa Chùa Và Phong Thổ của tỉnh Lai Châu đã xây dựng 40 Trung tâm HTCĐ.
Những năm tiếp theo, được sự phối hợp của Hội Khuyến học Việt Nam, mô hình quản lý phát triển các Trung tâm HTCĐ đã phát triển mạnh mẽ trong toàn quốc. Theo Quyết định 112/2005/QĐ-TTg ngày 18/5/2005 của Thủ tướng Chính phủ, đến năm 2010 phải phấn đấu để 80% số xã, phường trong cả nước có Trung tâm học tập cộng đồng. Nhưng chỉ đến cuối năm 2008, chỉ tiêu nay đã được thực hiện, vượt mức qui định về thời gian là 2 năm. Kết quả đó nói lên rằng, nhân dân ta rất quan tâm đến loại hình giáo dục này.
Mô hình TTHTCĐ đã được thực tiễn chấp nhận và được triển khai trên cả nước. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tính đến hết năm 2014, theo báo cáo tổng kết năm học 2013-2014 của Bộ GD&ĐT, mạng lưới TTHTCÐ tiếp tục phát triển mạnh, cả nước có khoảng gần 11 nghìn TTHTCÐ, trong đó có 53 tỉnh, thành phố đạt 100% số xã, phường, thị trấn có TTHTCÐ (chiếm tỷ lệ 98,77%). Số lượng các TTHTCÐ đang tiếp tục tăng lên và tạo cơ hội cho hàng chục triệu lượt người được học tập với nhiều nội dung về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, góp phần giữ vững an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội, cải thiện chất lượng cuộc sống và giữ vai trò quan trọng trong xây dựng xã hội học tập từ cơ sở. Về mặt tổ chức và quản lý, mô hình TTHTCĐ của Việt Nam được thiết kế và phát triển trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm của các nước trên thế giới, đồng thời có sự kế thừa và phát huy các yếu tố tích cực của các mô hình thiết chế văn hoá-giáo dục tại cộng đồng đã có từ trước đây ở trong nước (như nhà Rông, đình làng).
Do đó, TTHTCĐ đang được xây dựng và phát triển ở Việt Nam vừa có sự phù hợp với những điều kiện, hoàn cảnh mới và mang ý tưởng của thời đại, vừa có yếu tố truyền thống. Mô hình TTHTCĐ đã được thực tiễn chấp nhận và đang được phát triển như một tất yếu trong việc xây dựng xã hội học tập sâu rộng. * Tính khách quan, tính khoa học của việc hình thành mô hình giáo dục thường xuyên, học suốt đời và mô hình tổ chức TTHTCĐ Sau gần hai mươi năm phát triển, hệ thống TTHTCĐ ở Việt Nam đã được đánh giá là một mô hình cơ sở giáo dục mới với những điểm mạnh, điểm yếu và đang đứng trước những cơ hội và thách thức khá rõ rệt cụ thể là: - TTHTCĐ ở nước ta đã khẳng định những điểm mạnh chủ yếu: + Đã tạo ra cơ hội học tập thường xuyên, học tập suốt đời cho người dân ngay tại cộng đồng do được tổ chức ngay tại cơ sở làng xã, với phương trâm “cần gì học nấy”; + Góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân ở cộng đồng cả về nâng cao dân trí, cải thiện dân sinh, thực hiện dân quyền, ổn định và nâng cao chất lượng dân số, cải thiện môi trường dân cư; 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Góp phần phát triển cộng đồng bền vững thông qua việc đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế địa phương, thực hiện các mục tiêu phát triển văn hoá - xã hội của địa phương và nâng cao nhận thức, kỹ năng của người dân trong việc thực hiện mục tiêu bảo vệ môi trường. - Những hạn chế cần khắc phục: + Chưa thực sự tạo cơ hội học tập thường xuyên, học tập suốt đời cho tất cả mọi người (mới chỉ thu hút khoảng 20- 40% người dân tham gia); + Chất lượng, hiệu quả và tính bền vững của nhiều trung tâm còn hạn chế (Chương trình, nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức của nhiều TTHTCĐ chưa đa dạng, chưa thiết thực, chưa phù hợp với nhu cầu của người dân và các vấn đề của cộng đồng; địa điểm đặt TTHTCĐ chưa thật sự thuận lợi đối với người dân ở địa bàn miền núi, hải đảo có địa hình phân tán); + Việc giám sát, đánh giá hoạt động, chất lượng của các TTHT còn nhiều bất cập.
- Những cơ hội đang mở ra đối với hệ thống TTHTCĐ hiện nay: + Người dân ngày càng ý thức được tầm quan trọng và có nhu cầu học tập thường xuyên học tập suốt đời; + Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương chính sách; + Việc giáo dục, tuyên truyền cho người dân ở cơ sở ngày càng được các ban ngành, đoàn thể, chương trình, dự án, coi trọng; + Vấn đề học tập thường xuyên, học tập suốt đời ngày càng được các tổ chức quốc tế quan tâm. - Những thách thức đang đặt ra đối với hệ thống TTHTCĐ hiện nay: + Nhận thức của xã hội, các cấp chính quyền và người dân đối với vị trí,vai trò của TTHTCĐ còn chưa đầy đủ, sự quan tâm chỉ đạo của nhiều địa phương và sự tích cực chủ động tham gia của nhiều người dân còn hạn chế, sự phối hợp của các ban, ngành, đoàn thể trong việc tổ chức hoạt động tại các TTHTCĐ chưa chặt chẽ và thiếu hiệu quả; 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Chế độ chính sách đối với cán bộ quản lý và giáo viên của TTHTCĐ còn rất thấp, chưa phù hợp; + Đội ngũ giáo viên, báo cáo viên TTHTCĐ thiếu về số lượng, hạn chế về chất lượng; + Cơ sở vật chất, trang thiết bị, tài liệu học tập tại TTHTCĐ còn thiếu thốn chưa phù hợp; kinh phí đã được nhà nước hỗ trợ nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu, trong khi đó khả năng huy động các nguồn kinh phí khác còn quá khó khăn.