phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, kết quả nghiên cứu của luận văn đƣợc trình bày gồm 3 chƣơng: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của vấn đề quản lý giáo dục văn hoá học đƣờng ở trƣờng THPT; - Chƣơng 2: Thực trạng công tác quản lý giáo dục văn hoá học đƣờng ở các trƣờng THPT huyện Tiên Du - tỉnh Bắc Ninh; - Chƣơng 3: Biện pháp quản lý giáo dục văn hoá học đƣờng ở các trƣờng THPT huyện Tiên Du - tỉnh Bắc Ninh. 5 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ GIÁO DỤC VĂN HÓA HỌC ĐƢỜNG 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Văn hóa nhà trường (Scholary culture, culture scolaire, viết tắt VHNT) là văn hóa của một tổ chức. Xét về bản chất, mỗi nhà trƣờng là một tổ chức hành chính - sƣ phạm.
Đó là một thế giới thu nhỏ với cơ cấu, chuẩn mực, quy tắc hoạt động, những giá trị, điểm mạnh và điểm yếu riêng cho những con ngƣời cụ thể thuộc mọi thế hệ tạo lập. Với tƣ cách là một tổ chức, mỗi nhà trƣờng đều tồn tại dù ít hay nhiều đều có một nền VH nhất định. Tuy nhiên cho đến nay, lại có rất ít tác giả quan tâm đi sâu vào nghiên cứu về lý luận một cách có hệ thống về việc giáo dục VHHĐ. Cũng đã có một số sách và bài viết gần đây quan tâm tới công tác VH học đƣờng ở trƣờng phổ thông nhƣ VH học, môi trƣờng VH cơ sở…Có thể kể đến: - Đỗ Huy (2001), Xây dựng môi trƣờng văn hóa ở nƣớc ta hiện nay từ góc nhìn giá trị học, Viện văn hóa, Nhà xuất bản thông tin, Hà Nội.
- Văn Đức Thanh (2001), Xây dựng môi trƣờng văn hóa cơ sở, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội. - Đinh Viễn Trí - Đông Phƣơng Tri (Ngọc Anh dịch) (2003), Văn hóa giao tiếp ứng xử, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin, Hà Nội.M Rôđin (2000), Văn hóa học (Ngƣời dịch: Nguyễn Hồng Minh), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. - Phạm Hồng Quang (2006), Môi trƣờng giáo dục, Nhà xuất bản Giáo dục. - Trƣờng ĐHSPHN (9-2007) - Viện Nghiên cứu sƣ phạm, Hội thảo khoa học: Xây dựng văn hóa học đƣờng - Giải pháp nâng cao chất lƣợng giáo dục trong nhà trƣờng , Hà Nội.
6 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ Nhìn chung, trong các đề tài nghiên cứu trên đây đã đề cập đến từng khía cạnh của vấn đề VHHĐ, chƣa đề cập cụ thể đến việc giáo dục VHHĐ ở trƣờng THPT, chƣa phải là những khảo cứu chuyên sâu về giáo dục VHHĐ. Vì vậy, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài này với hy vọng để làm sáng tỏ cơ sở lý luận về giáo dục VHHĐ ở trƣờng THPT, đồng thời đề xuất những biện pháp trong công tác giáo dục VHHĐ có hiệu quả góp phần xây dựng một môi trƣờng công tác tích cực cho CBGV & HS, trên cơ sở đó góp phần thực hiện tốt mục tiêu giáo dục của các Trƣờng THPT huyện Tiên Du trong giai đoạn phát triển hiện nay. Những khái niệm cơ bản 1. Quản lý, quản lý giáo dục và quản lý nhà trường 1.
Quản lý Khái niệm “quản lý” có trong nhiều công trình nghiên cứu: - Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động. Chính sự phân công, hợp tác lao động nhằm đến hiệu quả nhiều hơn, năng suất cao hơn trong việc đòi hỏi phải có sự chỉ huy phối hợp, điều hành, kiểm tra, chỉnh lý… phải có ngƣời đứng đầu. Đây là hoạt động để ngƣời thủ trƣởng phối hợp nỗ lực với các thành viên trong nhóm, trong cộng đồng, trong tổ chức đạt đƣợc mục tiêu đề ra. - Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: Quản lý là sự tác động có định hƣớng, có chủ đích của chủ thể quản lý (ngƣời quản lý) - trong tổ chức - nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt đƣợc mục đích của tổ chức.
Cũng theo đó các tác giả còn phân định rõ hơn về hoạt động quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các chức năng kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra. 7 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ Những định nghĩa trên đây tuy khác nhau về cách diễn đạt, nhƣng đều có điểm chung, bao gồm các yếu tố (điều kiện) sau: + Phải có ít nhất một chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động và ít nhất là một đối tƣợng bị quản lý tiếp nhận trực tiếp các tác động của chủ thể quản lý tạo ra và các khách thể khác chịu các tác động gián tiếp của chủ thể quản lý. Tác động có thể chỉ là một lần mà cũng có thể là liên tục nhiều lần. Chủ thể có thể là một ngƣời, một nhóm ngƣời, hoặc một bộ phận chức năng.
+ Phải có một mục tiêu và một quỹ đạo đặt ra cho cả đối tƣợng và chủ thể, mục tiêu này là căn cứ để chủ thể tạo ra các tác động. + Phải có đối tượng quản lý, có thể là một, hoặc nhóm ngƣời, hoặc một hoạt động, một tổ chức xã hội. + Các nguồn lực, môi trƣờng và các điều kiện đảm bảo các tác động quản lý. Quản lý ngày nay đƣợc coi là một trong 5 nhân tố phát triển kinh tế xã hội: vốn, nguồn lực lao động, khoa học kỹ thuật, tài nguyên và quản lý.
Trong đó quản lý giữ vai trò quyết định sự thành công. Có thể khái quát: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có mục đích…của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý bằng các quyết định, các cơ chế chính sách và phẩm chất uy tín của cơ quan quản lý hay của người quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các điều kiện (nhân lực, tài lực và vật lực…) và các cơ hội nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức trong một môi trường luôn biến động. Nhƣ vậy, có thể xem quản lý là một quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch dựa trên các chức năng đặc thù của chủ thể quản lý nhằm gây ảnh hƣởng đến khách thể quản lý thông qua cơ chế quản lý, nhằm đạt đƣợc mục tiêu quản lý, từ đó nhằm thực hiện tốt nhất các mục tiêu của tổ chức. Quản lý có 4 chức năng cơ bản sau: - Chức năng lập kế hoạch; - Chức năng tổ chức; 8 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ - Chức năng chỉ đạo; - Chức năng kiểm tra - đánh giá.
Ngoài 4 chức năng cơ bản, truyền thống nói trên, nghiên cứu quá trình quản lý trong điều kiện xã hội thông tin, gần đây nhiều công trình đã đƣa Thông tin quản lý nhƣ là một chức năng không thể thiếu. Quá trình quản lý thƣờng diễn ra theo một chu kỳ gọi là chu trình quản lý, chu trình quản lý đƣợc biểu hiện bằng sơ đồ sau: 1. Quản lý giáo dục Sơ đồ 1. Chu trình quản lý Kế hoạch Kế hoạch Thông tin Kiểm tra Tổ chức quản lý Chỉ đạo Chỉ đạo Giáo dục là một hoạt động cơ bản xã hội, vì vậy QLGD là quản lý một quá trình xã hội.
QLGD là bộ phận không thể tách rời của hệ thống quản lý XH. Đã có nhiều nhà nghiên cứu đƣa ra định nghĩa về QLGD: - Theo M.I Kônđacốp: “Quản lý giáo dục là tập hợp các biện pháp tổ chức cán bộ, giáo dục, kế hoạch hoá, tài chính… nhằm đảm bảo sự vận hành bình thƣờng của các cơ quan trong hệ thống giáo dục để tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lƣợng cũng nhƣ chất lƣợng” - Tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng: “Việc quản lý nhà trƣờng phổ thông (có thể mở rộng ra là việc QLGD nói chung) là quản lý hoạt động dạy - học, 9 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ tức là làm sao đƣợc hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần tiến tới mục tiêu giáo dục”. - Tác giả Nguyễn Minh Đƣờng: QLGD đƣợc biểu hiện ở hai cấp độ: Theo nghĩa rộng: QLGD theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lƣợng XH nhằm đẩy mạnh hoạt động đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu XH hiện nay. Theo nghĩa hẹp: QLGD, quản lý trƣờng học cụ thể là một chuỗi tác động hợp lý, (có mục đích tự giác, có kế hoạch, có hệ thống) mang tính tổ chức sƣ phạm của chủ thể quản lý đến tập thể GV & SV, đến những lực lƣợng GD trong và ngoài trƣờng, nhằm huy động họ cùng cộng tác, phối hợp tham gia vào hoạt động của nhà trƣờng, nhằm làm cho quy trình này vận hành tới việc hoàn thành những mục đích dự kiến.
của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý và các thành tố tham gia vào quá trình hoạt động GD nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu GD. Như vậy, quản lý giáo dục là quá trình tác động có ý thức (có mục đích, có tổ chức) của chủ thể quản lý tới khách thể, thực hiện các chức năng quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt các mục tiêu GD với hiệu quả mong muốn. Ở Việt Nam, nội dung của quản lý nhà nước về giáo dục đƣợc quy định tại Điều 99 - Luật giáo dục. Quản lý nhà trường Nhà trường là một thiết chế chuyên biệt của XH, thực hiện chức năng kiến tạo các kinh nghiệm XH cần thiết cho một nhóm dân cƣ nhất định, sao cho việc kiến tạo kinh nghiệm XH đạt đƣợc mục tiêu XH đặt ra.
Quản lý nhà trường là một loại hình đặc thù của quản lý giáo dục và là cấp độ Quản lý giáo dục vi mô. Quản lý nhà trường là hệ thống những tác động có mục đích, kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý (Hiệu trƣởng, các bộ phận chức năng, các cơ quan quản lý nhà nƣớc về GD cấp trên) nhằm làm cho quá trình GD nói chung 10 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ và các hoạt động GD - dạy học cụ thể đƣợc tiến hành trong nhà trƣờng đảm bảo thực hiện tốt các mục tiêu GD của cấp học, bậc học và các mục tiêu phát triển nhà trƣờng. Trong nhà trƣờng, Hiệu trƣởng quản lý mọi hoạt động của nhà trƣờng theo chế độ thủ trưởng. Hiệu trƣởng là ngƣời phụ trách cao nhất của nhà trƣờng và chịu trách nhiệm về các hoạt động trong nhà trƣờng.