Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC TÍNH KỶ LUẬT THEO ĐIỀU LỆNH NỘI VỤ CAND CHO HỌC SINH TRƯỜNG VĂN HÓA CAND 1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài Trong lịch sử phát triển của giáo dục, giáo dục tính kỷ luật theo Điều lệnh nội vụ CAND là vấn đề luôn được quan tâm nghiên cứu cả về lý luận cũng như thực tiễn. Song ở mỗi giai đoạn lịch sử, vấn đề kỷ luật theo Điều lệnh nội vụ CAND được đề cập đến ở những góc độ khác nhau.
- Vấn đề về vai trò của giáo dục tính kỷ luật C. Ăngghen đã cho rằng: “Nhiệm vụ của chúng ta không phải chỉ giáo dục cho mình một thái độ đúng đắn, hợp lý đối với các vấn đề hành vi mà còn phải giáo dục những thói quen đúng đắn, tức là những thói quen hành động hoàn toàn không phải ngồi ngẫm nghĩ nữa, tức là người ta không thể làm khác được vì vốn đã quen làm như thế. Và việc giáo dục những thói quen đó là công việc khó khăn rất nhiều” [30, tr. Trong nghiên cứu của tác giả Culacốp về vai trò của giáo dục phẩm chất - tính KL trên đối tượng thanh niên tác giả đã viết: “Phải làm cho đối tượng giáo dục biến những yêu cầu, quy định có tính chất bắt buộc thành yêu cầu của chính bản thân mình và việc thực hiện yêu cầu đó trở thành sự bức thiết của mỗi người.
Đồng thời tác giả đã xác định con đường hình thành phẩm chất này: giáo dục một hành vi đẹp đẽ, một thói quen ổn định luôn luôn hành động theo đúng yêu cầu, điều lệ, mệnh lệnh - việc này chỉ có thể làm được trên cơ sở sự giác ngộ cao, sự tin tưởng sâu sắc của họ vào những điều lệ ấy” [30, tr.Macarenco đã cho rằng: Sự rèn luyện tính KL là một quá trình sư phạm phức tạp, là kết quả chung của toàn bộ công tác giáo dục hoặc sản phẩm của toàn bộ công tác giáo dục và theo tác giả kỷ luật sẽ tạo nên sự thống nhất, 6 chặt chẽ và tạo ra “Vẻ đẹp cho bộ mặt văn hóa của nhà trường”, ông cũng nhấn mạnh thêm: “Trường học mà thiếu kỉ luật thì giống như cái cối xay nước mà không có nước” và ông cho rằng, nhiệm vụ của trường học phải xây dựng được cho mình những biện pháp giáo dục kỉ luật mà trong đó trước tiên cần giáo dục về KL là KL nội vụ “Kỷ luật làm cho quá trình tổ chức giáo dục đảm bảo tiến hành có kết quả và ngược lại kỷ luật là kết quả nỗ lực của tập thể học sinh trong các hoạt động của các em; học tập, lao động, sản xuất văn hóa v.v, nó chính là kết quả của quá trình giáo dục. Hiểu kỷ luật chỉ là những biện pháp, những trật tự bề ngoài đó là điều nguy hại và sai lầm. Vì điều đó tạo cho tập thể trẻ em sự chống đối, mong muốn được tự do thoát khỏi vòng kỷ luật. Trong xã hội của chúng ta, kỷ luật là hiện tượng đạo đức.
Tính vô kỷ luật, con người sống không có kỷ luật đó là con người ta chống lại xã hội. Kỷ luật của chúng ta luôn đi kèm ý thức. Trẻ em cần được giáo dục để hiểu rằng muốn đảm bảo sự yên ổn về chính trị và đạo đức trong tập thể cần có kỷ luật”[1, tr. - Vấn đề quản lý giáo dục tính kỷ luật: Nhiều nhà tư tưởng, các học giả nghiên cứu, đề cập quản lý giáo dục tính kỷ luật dưới nhiều góc độ khác nhau.
Thời cổ đại, tiêu biểu có Khổng Tử, Hàn Phi Tử, các ông đề cao việc quản lý xã hội bằng đức trị, pháp trị. Thời kỳ Tư bản chủ nghĩa, các học thuyết quản lý phát triển mạnh và quan tâm nhiều đến quản lý công ty, xí nghiệp làm sao tăng năng suất, tăng lợi nhuận. Tuy nhiên, các tư tưởng này ít chú trọng đến người lao động. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã thực hiện một cuộc cách mạng trong quan niệm về giáo dục và quản lý giáo dục khi nghiên cứu về sự phát triển của xã hội loài người, đã coi quản lý là một đặc điểm vốn có, bất biến về mặt lịch sử của đời sống xã hội.
Những nghiên cứu ở Việt Nam Trong lĩnh vực giáo dục, một số nhà khoa học và nhà sư phạm đã nghiên cứu về tính KL và biện pháp giáo dục tính kỉ luật trong học sinh, sinh viên, có 7 thể kể đến những công trình sau: Luận án tiến sĩ giáo dục học của tác giả Phạm Đình Hòe với đề tài “Hệ thống biện pháp giáo dục kỷ luật cho học viên văn hóa nghệ thuật quân đội” [12]; Luận án tiến sĩ giáo dục học “Nghiên cứu quy trình tổ chức giáo dục kỉ luật cho học viên trong nhà trường quân đội” của tác giả Vũ Quang Hải [10], v. Các công trình nghiên cứu của các tác giả tập trung luận giải vấn đề cơ bản giáo dục kỷ luật cho sinh viên. Một số nhà khoa học và nhà sư phạm khác đã tập trung nghiên cứu hoạt động quản lý nói chung, quản lý giáo dục nói riêng với các đối tượng, ở những cấp độ và góc độ khác nhau. Tiêu biểu có tác phẩm “Đại cương khoa học quản lý” của tác giả Nguyễn Quốc Chí, tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc.
Tác phẩm “Những cơ sở của lý luận quản lý giáo dục” của tác giả Nguyễn Trọng Hậu v. Các công trình nghiên cứu của các tác giả tập trung luận giải nhiều vấn đề cơ bản, như: vai trò của quản lý, quản lý giáo dục; khái niệm về quản lý, quản lý giáo dục, quản lý trường học; bản chất, chức năng, nguyên tắc và phương pháp quản lý giáo dục; thông tin trong quản lý, quản lý giáo dục; hệ thống giáo dục quốc dân; quản lý nhà nước về giáo dục; quản lý nhà trường; quản lý tài chính; quản lý chất lượng giáo dục; các mô hình quản lý giáo dục v. Về phương diện quản lý giáo dục tính kỷ luật theo Điều lệnh nội vụ CAND cho học sinh, sinh viên trong lực lượng Công an thì hiện nay chưa có tác giả nào đề cập đến. Đối với lực lượng công an, kỷ luật và giáo dục tính kỷ luật cho cán bộ, chiến sĩ nói chung, học viên trong nhà trường công an nói riêng có vai trò rất quan trọng, là yếu tố cơ bản tạo thành sức mạnh của lực lượng.
Do đó đề tài tập trung nghiên cứu sâu cơ sở lý luận về bản chất của kỷ luật, giáo dục tính kỷ luật, giáo dục tính kỷ luật theo Điều lệnh nội vụ CAND; những cơ sở lý luận, thực tiễn và tính cấp thiết của quản lý giáo dục tính kỷ luật luật theo Điều lệnh nội vụ CAND góp phần xây dựng lực lượng Công an cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, quản lý giáo dục tính kỷ luật theo Điều lệnh nội vụ CAND cho học sinh trường Văn hoá I - Bộ Công an. Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý và quản lý giáo dục 1. Khái niệm về quản lý Quản lý là hoạt động đặc biệt, là yếu tố không thể thiếu được trong đời sống xã hội, gắn liền với quá trình phát triển, đặc biệt trong xã hội phát triển như hiện nay thì quản lý có vai trò rất lớn.
Có nhiều cách tiếp cận quản lý khác nhau, ở mỗi cách tiếp cận, có những cách định nghĩa khác nhau: Theo Từ điển tiếng Việt: Quản lý là trông coi, giữ gìn theo những yêu cầu nhất định [29, tr. “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm. Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất. Với tư cách thực hành thì cách quản lý là một nghệ thuật, còn kiến thức có tổ chức về quản lý là một khoa học”.33] “Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý (người quản lý hay tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượng) quản lý về các mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế.
bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng”.7] Theo quan điểm của lý thuyết hệ thống: Quản lý là phương thức tác động có chủ định của chủ thể quản lý lên hệ thống bao gồm hệ các quy tắc ràng buộc về hành vi đối với mọi đối tượng ở các cấp trong hệ thống nhằm duy trì tính trội hợp lý của cơ cấu và đưa hệ sớm đạt mục tiêu. Quản lý được hiểu ở những góc độ khác nhau, song trong phạm vi luận văn này, chúng tôi thống nhất với khái niệm: quản lý là hoạt động có ý thức của chủ thể quản lý nhằm điều khiển tác động lên đối tượng, khách thể quản lý để đạt được mục tiêu quản lý. Khái niệm về quản lý giáo dục Có nhiều nghiên cứu về quản lý giáo dục: Theo tác giả Trần Kiểm “Quản lý khoa học hệ thống giáo dục có thể xác định như là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và định hướng của chủ thể quản lý ở cấp độ khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ Bộ đến trường, các cơ sở giáo dục khác) nhằm mục đích đảm bảo giáo dục xã hội chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung của chủ nghĩa xã hội, cũng như quy luật của quá trình giáo dục, của sự phát triển thể lực, tâm lý trẻ thiếu niên và thanh niên" [15, tr. Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp với quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng.
Thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục đến mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái mới về chất" [20, tr.