Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC PHÒNG TRÁNH BẠO LỰC HỌC ĐƯỜNG Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu trên thế giới Trên thế giới đã có những nghiên cứu và đánh giá về thực trạng bạo lực học đường diễn ra, cụ thể: Theo báo cáo của tổ chức UNICEF với tiêu đề Bài học mỗi ngày: chấm dứt bao lực trong nhà trường thì một nửa số học sinh từ 13 đến 15 trên toàn thế giới (khoảng 150 triệu học sinh) đã chịu ảnh hưởng của bạo lực học đường và đã từng bị bạo lực học đường, cho biết đã từng bị bạo lực bởi các bạn đồng trang lứa ngay trong nhà trường và ở các khu vực xung quanh trường học. Trong báo cáo đã chỉ ra bạo lực học đường giữa những học sinh cùng tuổi ảnh hưởng đến việc học tập của học sinh, điều này xảy ra ở các những quốc gia phát triển và những nước nghèo khó.
Theo báo cáo của Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao Trung Quốc, số liệu trong báo cáo cho thấy trong 11 tháng đầu năm 2016 có 2.337 học sinh bị kết tội vì gây bạo lực học đường. Theo khảo sát của Bộ Giáo dục Đào tạo tại Nhật Bản, năm 2016 số vụ bắt nạt ở cấp tiểu học và trung học tăng lên mức kỷ lục là 224.540 trường hợp, tăng hơn 36.400 trường hợp so với năm 2015. Quỹ Phòng, chống bạo lực thanh thiếu niên Hàn Quốc khi thực hiện khảo sát vào tháng 11 và 12 năm 2009 có đến 22% học sinh tiểu học và trung học cơ sở bị bắt nạt ở trường. Cho đến năm 2016, số lượng học sinh Tiểu học bị bạo lực học đường chiếm đến 67% số vụ bạo lực học đường.
Để phòng chống bạo lực học đường, các nước như Hàn Quốc, Thụy Điển, Philipin. đã ban hành luật và đạo luật, đơn cử như Australia có Khung chuẩn quốc gia về trường học an toàn (2004), Hàn Quốc đã ban hành luật chống bạo lực và bắt nạt học đường vào năm 2004, Thụy Điển có Luật chống phân biệt (2009) và Luật Giáo dục sửa đổi (2010) cấm tất cả các hình thức phân biệt và bắt nạt ở trường học hay Philippines cũng ban hành Đạo luật chống bắt nạt (2016) đề cập đến cả bắt nạt truyền thống và bắt nạt trực tuyến;. Ở Mỹ không có riêng một điều luật về phòng, chống bạo lực và bắt nạt, nhưng tất cả nội dung này đều được quy định trong các điều luật về nhà trường, luật về môi trường trường học an toàn và không có chất gây nghiện; đạo luật về môi trường cộng đồng an toàn thân thiện. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tổ chức Y tế thế giới đã đưa ra một mô hình phòng chống bạo lực dựa vào trường học trong đó có những thành tố sau: Xem xét khung pháp lý, điều chỉnh chính sách có liên quan; Định kỳ thu thập dữ liệu về bạo lực và theo dõi sự thay đổi theo thời gian; Triển khai các chương trình phòng ngừa bạo lực phù hợp với lứa tuổi; Phản ứng nhanh với bạo lực khi nó xảy ra.
Bên cạnh đó, để phòng chống bạo lực học đường hiệu quả cần thực hiện các chính sách và đào tạo GV phù hợp; Xem xét và điều chỉnh môi trường an toàn cho HS; Kết nối, thu hút phụ huynh tham gia vào hoạt động phòng chống bạo lực; Kết nối, thu hút cộng động tham gia vào hoạt động phòng chống bạo lực; Định kỳ đánh giá hoạt động phòng chống bạo lực học đường. Lane, Kalberg và Menzies (2009) đã đưa ra mô hình phòng chống bạo lực học đường như sau: 1) Xây dựng mục tiêu phòng ngừa bạo lực học đường và được triển khai trong toàn trường cho tất cả HS, GV và nhân viên. 2) Đảo ngược khả năng gây hại tập trung vào hệ thống một nhóm HS có nguy cơ bạo lực ở mức thấp (cụ thể là hệ thống hòa giải). 3) Giảm thiểu khả năng gây hại tập trung vào những HS có nguy cơ bạo lực cao (bao gồm cả chương trình theo dõi, cam kết hành vi và chuyển tuyến chăm chữa về sức khỏe tâm thần.
Lane, Kalberg và Menzies nhấn mạnh để thực hiện mô hình hiệu quả đòi hỏi khả năng lãnh đạo của cán bộ quản lý, xây dựng môi trường học hòa nhập và an toàn, đối với HS phải phát triển kiến thức, thái độ và kỹ năng; mối quan hệ hợp tác hiệu quả. Các tác giả đã đưa ra các biện pháp như: Tuyên truyền về quy tắc ứng xử trong nhà trường; Xây dựng môi trường học tập toàn diện và an toàn cho HS, cung cấp các chương trình giảng dạy và tài liệu học tập có liên quan đến phòng chống bạo lực, thay đổi văn hóa các trường học…. Năm 2005, Glew GM và các cộng sự ở Khoa Tâm thần và khoa học hành vi, Đại học Washington School of Medicine, Mỹ đã tiến hành trên 3.530 học sinh lớp ba, lớp bốn, lớp năm tại Mỹ với đề tài “Bắt nạt, tâm lý xã hội điều chỉnh và kết quả học tập ở trường tiểu học”, các tác giả đã xác định tỷ lệ bắt nạt trong trường tiểu học, kết quả 22,0% trẻ em được khảo sát đã tham gia vào việc bắt nạt hoặc như là một nạn nhân, bị bắt nạt, hoặc cả hai, các tác giả nhận định bắt nạt học đường đã ảnh hưởng tới nhà trường và các thành tích học tập của HS, gây ảnh hưởng tâm lý tới HS khi một số em có cảm giác buồn, không an toàn. Tác giả cho rằng: sự phổ biến của hành vi bắt nạt thường xuyên ở trẻ em trường tiểu học là rất đáng kể.
Mối liên hệ giữa hành vi bắt nạt và các vấn đề trong trường học cho thấy đây là một vấn đề nghiêm trọng đối với các trường tiểu học nơi đây [dẫn theo 9]. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Năm 2012, Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa bệnh tật (CDC) tại Mỹ vào năm 2012 một cuộc khảo sát trên quy mô lớn của “Hiểu biết về bạo lực học đường” (Underdtanding school vilolence) đã thống kê có 5,9% học sinh mang theo một loại vũ khí (như súng, dao) vào trường học trong 30 ngày trước thời điểm điều tra. Trong 12 tháng trước cuộc điều tra, 7,8% học sinh trung học được thông báo bị đe dọa hay bị thương tích bằng một loại vũ khí trong trường học ít nhất một lần, với tỷ lệ nam cao gấp hai lần nữ, 12,4% học sinh từng tham gia vào một vụ đánh nhau tại trường ít nhất một lần. Tỷ lệ này ở nam cũng cao gấp hai lần nữ.
Trong 30 ngày trước cuộc điều tra, 5,5% học sinh được cảnh báo những nguy cơ không an toàn nên họ đã không tới trường ít nhất một ngày. Các tỷ lệ này ở nam và nữ xấp xỉ bằng nhau [dẫn theo 9]. Ngoài ra, các lý thuyết trong nghiên cứu về bạo lực học đường hiện nay như: Lý thuyết sinh thái gắn liền với Bronfenbrenner (1979), mặc dù nó xuất phát từ lý thuyết của Lewin (1935), các tác giả xem xét sự tương tác giữa các yếu tố khách quan như hoàn cảnh gia đình, môi trường học đường, môi trường tự nhiên và xã hội xung quanh trường học với các yếu tố thuộc cá nhân học sinh như gen, hệ thần kinh, giới tính, các quá trình tâm lý cá nhân, các sự kiện xảy ra trong quá khứ của trẻ [3]. Nghiên cứu hành vi bạo lực của học sinh trong và ngoài trường học theo lý thuyết căng thẳng, các nhà nghiên cứu tập trung phân tích mối quan hệ giữa hành vi bạo lực học đường và trạng thái cảm xúc của học sinh trong các tình huống: bị giáo viên trừng phạt, chứng kiến bạn khác bị bắt nạt hoặc bị trừng phạt; chứng kiến cảnh cha mẹ mắng chửi, đánh nhau, chứng kiến cảnh bạo lực trong cộng đồng.
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, hành vi bạo lực gắn với trạng thái căng thẳng của học sinh ở trường học. Những cơn tức giận, lo âu, trầm cảm của học sinh liên quan đến sự ứng xử của giáo viên đối với học sinh, kể cả đối với học sinh cá biệt (Brezina, 1996). Các yếu tố gây stress ở trường học tiềm ẩn nguy cơ làm gia tăng hành vi bắt nạt học đường (Natvig, 2001). Việc chứng kiến bạo lực hoặc là nạn nhân của hành vi bạo lực tại cộng đồng có mối quan hệ với hành vi chống đối xã hội của trẻ ở trường học [dẫn theo 3].
Lý thuyết về học tập xã hội gắn liền với Albert Bandura (1977) và Ronald Akers (1983). Theo lý thuyết học tập xã hội nhiều hành vi của con người, trong đó có cả những hành vi gây hấn và bạo lực được học bằng cách quan sát, tập nhiễu từ sự quan sát hành vi của người khác. Lý giải hành vi bạo lực trong và ngoài trường học của học sinh theo lý thuyết học tập xã hội, các nhà nghiên cứu tập trung phân tích việc học sinh chứng kiến và trải nghiệm qua các tình huống bạo lực trong gia đình và cộng đồng từ 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đó dự báo hành vi bạo lực của học sinh. Kết quả nghiên cứu cho thấy những trẻ bị cha mẹ trừng phạt thân thể có xu hướng ứng xử bạo lực với bạn nhiều hơn những trẻ không bị cha mẹ trừng phạt.
Những học sinh có khả năng kiểm soát bản thân thấp nếu chơi với nhóm bạn xấu, sẽ tập nhiễm hành vi của nhóm bạn này và có xu hướng sử dụng bạo lực trong các tình huống hẫng hụt [3]. Các nghiên cứu ở Việt Nam Các nghiên cứu về bạo lực học đường Tác giả Trần Thị Mỵ Lương đã đưa ra những đánh giá hành vi hung tính trong bài viết Nhìn nhận vấn đề bạo lực học đường và hành vi hung tính dưới tiếp cận tâm lý học, hung tính được xác định là hành vi kiểu tấn công, gây tổn hại thương tích cho người khác một cách có chủ ý, vi phạm các chuẩn mực xã hội. Tác giả đưa ra các biện pháp để cải thiện hành vi hung tính như: Một số chương trình ngăn chặn hướng tới cải thiện các mối quan hệ gia đình, một số chương trình ngăn chặn và can thiệp tập trung vào các chiến lược cấp độ cá nhân…[16]. Tác giả Nguyễn Bá Đạt đã nghiên cứu các lý thuyết về bạo lực học đường trong bài viết Các lý thuyết trong nghiên cứu về bạo lực học đường hiện nay đã khẳng định có năm lý thuyết căn bản: sinh thái, căng thẳng, kiểm soát, học tập xã hội, xử lý thông tin được các nhà nghiên cứu sử dụng trong việc lý giải nguyên nhân, nguồn gốc dẫn đến hành vi bạo lực học đường.