Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC PHÁT TRIỂN TÌNH CẢM VÀ KỸ NĂNG XÃ HỘI CHO TRẺ MẪU GIÁO THEO QUAN ĐIỂM MONTESSORI TẠI CÁC TRƯỜNG MẦM NON 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Giáo dục tình cảm và kỹ năng xã hội cho trẻ mầm non nói chung, trẻ mẫu giáo nói riêng là một trong các lĩnh vực giáo dục quan trọng đối với sự phát triển của trẻ mầm non. Đã có khá nhiều công trình nghiên cứu của các tác nước ngoài và trong nước về hoạt động giáo dục phát triển tình cảm và kỹ năng xã hội cho trẻ. Zaporozet…) chỉ ra rằng, nếu đứa trẻ không đạt được sự phát triển tình cảm và xã hội tối thiểu vào khoảng 6 tuổi thì trẻ có thể gặp nhiều khó khăn trong học tập cũng như cuộc sống sau này.
Bên cạnh đó, thông qua việc quan sát các mối quan hệ trong cuộc sống, các kỹ năng như quan sát, tư duy của trẻ cũng được rèn luyện và phát triển. Trẻ nhận thức được những tình huống khác nhau, từ đó phân tích, khái quát, đánh giá và có những hành vi, thái độ ứng xử phù hợp. Từ đó tạo điều kiện cho sự phát triển nhận thức, hình thành và phát triển năng lực cá nhân [dẫn theo 2]. Jones and Suzanne M.
Theo CASEL, giáo dục tình cảm xã hội được thể hiện thông qua 5 năng lực cốt lõi, bao gồm [dẫn theo 2]: 8 + Tự nhận thức (self-awareness): Khả năng nhận biết, gọi tên cảm xúc của bản thân cũng như suy nghĩ và hành vi của mình trong những tình huống khác nhau. Điều này cũng bao gồm khả năng đánh giá chính xác điểm mạnh và hạn chế của mình cũng như thiết lập cảm giác tự tin có căn cứ. + Tự quản lý (self-management): Khả năng điều chỉnh/ điều hòa cảm xúc, suy nghĩ, hành vi của bản thân; duy trì sự hài lòng; kiểm soát căng thẳng hiệu quả; tự động viên bản thân; thúc đẩy và lên kế hoạch làm việc để đạt được mục đích. + Nhận thức xã hội (social awareness): Khả năng nhìn nhận, đồng cảm với người khác từ những nền văn hoá và nguồn gốc khác nhau; điều này cũng bao gồm khả năng tiếp thu quan điểm của người khác, nhận biết và huy động sự hỗ trợ đa dạng và sẵn có.
+ Các kĩ năng quan hệ (relationship skills): Khả năng thiết lập và duy trì các mối quan hệ lành mạnh và bổ ích với cá nhân, nhóm và tập thể. Khả năng giao tiếp rõ ràng, lắng nghe tốt, hợp tác với người khác, tự bảo vệ bản thân bởi những áp lực xã hội không phù hợp, giải quyết xung đột bằng cách đàm phán và tìm kiếm sự trợ giúp khi cần, đều là những ví dụ rõ ràng về kỹ năng này. + Quyết định có trách nhiệm (responsible decisions-making): Khả năng đưa ra các lựa chọn dựa trên sự cân nhắc về cảm xúc, hành vi cá nhân, mục tiêu, kết quả và tương tác xã hội dựa trên các tiêu chuẩn đạo đức và chuẩn mực xã hội. Gần 100 năm được nghiên cứu, ứng dụng ở nhiều nước và hơn 10 năm có mặt tại Việt Nam, phương pháp giáo dục Montessori đã có những đóng góp không nhỏ trong việc giáo dục trẻ mầm non.
Có nhiều nhà giáo dục trong nước và nước ngoài nghiên cứu ứng dụng phương pháp này vào cuộc sống, trong giáo dục trẻ cụ thể: E.Standing, trong cuốn “Maria Montessori-cuộc đời và sự nghiệp”, 9 NXB Phụ nữ năm 2018, Ông đã hệ thống những nội dung, dẫn chứng những tình huống cụ thể để hiểu rõ hơn tư tưởng, triết lý giáo dục của bà. Trong chương VI-Những giai đoạn phát triển hay sự phát triển và những biến hóa, ông có nêu về sự PTTC&KNXH với các ý chính sau [10]: + Giai đoạn từ 0-3 tuổi, trẻ có năng lực “trí tuệ thẩm thấu”. “Phân kỳ phụ thứ hai, từ 3 đến 6 tuổi… trẻ tiếp nhận một cách có ý thức những thứ từ môi trường… trẻ tiếp tục quá trình tự kiến tạo này nhưng phải sử dụng ý chí bản thân… cái Tôi của trẻ dẫn đường chỉ lối cho trẻ” nên trẻ cần người giáo viên là người chuẩn bị môi trường, trợ giúp trẻ một cách gián tiếp những nhu cầu của mình và không gây cản trở cho sự phát triển. Trẻ cần hoàn thiện nhân cách thông qua việc sử dụng 2 bàn tay, lao động độc lập, trải nghiệm các giác quan, tự do lựa chọn và tự mình dần kiến tạo bản thân để PTTC&KNXH.
+ Chương VII-“Thời kì nhạy cảm” trong sự phát triển, tác giả đề cập đến thời kì nhạy cảm với việc học cách ứng xử tốt khi trẻ từ 2,5-6 tuổi. “Giai đoạn này, ngoài việc hứng thú với những ấn tượng cảm giác bên ngoài, sự chú ý của trẻ trong giai đoàn này cũng được tự nhiên định hướng vào những hoạt động cơ thể.” Giai đoạn này trẻ hứng thú và đặc biệt tiếp thu để học cách “ứng xử đúng đắn”. Thời kì nhạy cảm này là “quyền năng của hiện tại”, nó không kéo dài mãi mãi nên “chúng ta phải để trẻ em được sống trọn vẹn trong hiện tại, sử dụng những món quà kỳ diệu của hiện tại” + Thông qua những bài học về đời sống thực tế (góc thực hành cuộc sống) và những bài học về tác phong ứng xử (lịch sự nhã nhặn) trong Chương XIII sẽ giúp cho trẻ “sử dụng một cách tự nhiên” các bài tập để thực hành và có được sự tự tin, bản lĩnh, biết yêu thương, tôn trọng người khác… Carol Garhart Mooney, trong cuốn “Các lý thuyết về trẻ em của Dewey, Montessori, Erikson, Piaget và Vygotsky”-Nguyễn Bảo Trung dịch, NXB Lao động năm 2016, bà đã tổng kết lý thuyết của Maria Montessori như sau [8]: 10 + Điểm nhấn của phương pháp Montessori là môi trường lấy trẻ làm trung tâm. “Môi trường” không chỉ bao gồm không gian mà trẻ sử dụng, cùng những vật dụng, giáo cụ trong không gian đó, mà còn là việc người lớn và trẻ em cùng chia sẻ với nhau ngày làm việc, cũng như môi trường bên ngoài và những địa điểm khác mà trẻ có thể học được ở nơi đó.
+ Montessori tin rằng trẻ học tốt nhất thông qua các trải nghiệm của giác quan và giáo viên trở thành “người canh giữ và bảo trợ cho môi trường học. Bà tin rằng trẻ em muốn và cần được tự chăm sóc bản thân cũng như môi trường xung quanh vì người lớn đang dành quá nhiều thời gian để “phục dịch” đứa trẻ. Đôi khi, làm thay trẻ việc gì đó dễ hơn là bỏ thời gian công sức ra để dạy các em tự làm nhưng để trẻ có thể trường thành và phát triển được tình cảm kỹ năng xã hội thì người lớn cần tạo cho trẻ cơ hội để các em tự mình làm những việc đó và làm đi làm lại. Tóm lại, thông qua việc được “lao động”, chỉ dẫn của người đồng hành là giáo viên, trẻ sẽ được trưởng thành và phát triển tình cảm, kỹ năng xã hội tốt nhất.
Quốc Tú Hoa trong cuốn “Cẩm nang nuôi dạy con theo phương pháp Montessori”- Bích Chuyên dịch, NXB Phụ nữ năm 2016, đã nêu ra các ví dụ rất cụ thể giúp giáo viên, phụ huynh hiểu được quan điểm của phương pháp nhằm ứng dụng vào thực tế chăm sóc, đồng hành cùng sự PTTC&KNXH cho trẻ mẫu giáo. Trong Chương IX-Sự hình thành tính cách, lời tựa của chương tác giả đã nhận định “những hành động của trẻ nói với chúng ta rằng, chỉ có những nỗ lực của cá nhân mới có thể thúc đẩy sự phát triển tính cách. Những nỗ lực mà trẻ có được không hề có quan hệ với những nhân tố bên ngoài, mà được quyết định bởi tiềm năng sáng tạo của trẻ và những trở ngại trẻ gặp phải trong cuộc sống thường ngày”. Nếu như trẻ có thể tự mình quyết định những việc mình nên làm, từ đó hoàn thiện cá tính của bản thân, thì tính cách của chúng sẽ không thể gặp bất cứ vấn đề gì [12].
11 Ngô Hiểu Huy trong cuốn “Phương pháp giáo dục Montessori-phương pháp giáo dục tối ưu cho trẻ 0-6 tuổi”, NXB Phụ nữ Việt Nam năm 2022, bà đã thống kê lại và đưa ra 3 phát hiện mà bà coi là quan trọng của phương pháp: Tâm trí tiếp nhận (trí tuệ thẩm thấu); thời kỳ nhạy cảm; quá trình bình thường hóa. Trong cuốn này, bà hệ thống lại các nguyên tắc, phương pháp để chỉ dẫn giáo viên, phụ huynh xử lý các tình huống và đưa ra ví dụ cụ thể về hoạt động giáo dục PTTC&KNXD cho trẻ mẫu giáo [13].Standing, trong cuốn “Maria Montessori-cuộc đời và sự nghiệp”, NXB Phụ nữ năm 2018: Nội dung quản lý hoạt động PTTC&KNXH được đề cập trong các chương và có một vài ví dụ về thiết kế nội dung học, tổ chức hoạt động, đánh giá trẻ nhưng chưa có hệ thống [10]. Carol Garhart Mooney trong cuốn “Các lý thuyết về trẻ em của Dewey, Montessori, Erikson, Piaget và Vygotsky”-Nguyễn Bảo Trung dịch, NXB Lao động năm 2016: bà cũng đưa ra những nhận định cá nhân để có thể quản lý hoạt động PTTC&KNXH, tuy nhiên vẫn rời rạc chưa có hệ thống [8]. Mun Chan Suk, đại diện hiệp hội Montessori Hoa kì tại Hàn Quốc, trong bài “Khái quát về phương pháp giáo dục Montessori” đăng trên Tạp chí Giáo dục số đặc biệt kỳ 2 tháng 8/2017 [17].
Hiện nay, tại Việt Nam, có các nghiên cứu về phương pháp giáo dục Montessori, hoạt động giáo dục PTTC&KNXH cũng đã được đề cập đến, có thể kể đến một vài nghiên cứu sau: Trần Phạm Huyền Trang, trường Cao đẳng Công nghệ thông tin Hữu Nghị Việt-Hàn, nghiên cứu về “Phương pháp giáo dục Montessori-thực trạng và giải pháp” [20]. Trịnh Thị Xim, trường Cao đẳng Sư phạm Trung Ương, nghiên cứu về “Ứng dụng phương pháp Montessori trong việc thực hiện chương trình giáo dục mầm non” [22]. Trần Thị Hằng, Nguyễn Thị Hồng Vân, trường Cao đẳng Sư phạm 12 Trung Ương, nghiên cứu về “Giáo dục kỉ luật cho trẻ mầm non theo phương pháp Montessori” [11]. Như vậy, có nhiều các công trình nghiên cứu về hoạt động giáo dục phát triển tình cảm và kỹ năng xã hội cho trẻ và nghiên cứu về ứng dụng phương pháp Montessori trong giáo dục trẻ.
Tuy nhiên các nghiên cứu về quản lý hoạt động giáo dục PTTC&KNXH chưa có nghiên cứu sâu nào chuyên biệt về quản lý hoạt động giáo dục PTTC&KNXH cho trẻ mẫu giáo theo quan điểm của Montessori ở các cơ sở mầm non độc lập. Đây cũng chính là những gợi mở cho tác giả tiếp cận nghiên cứu vấn đề “quản lý hoạt động giáo dục phát triển tình cảm và kỹ năng xã hội cho trẻ theo quan điểm Montessori tại các lớp mẫu giáo độc lập quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội”.