phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu. Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động giáo dục kỹ năng sống và quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống ở trƣờng THPT Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trƣờng THPT Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.Sơ lƣợc lịch sử vấn đề nghiên cứu Việc giáo dục kỹ năng sống cho giới trẻ nói chung và cho học sinh THPT hiện nay là vô cùng cấp thiết.
Giáo dục kỹ năng sống trở thành 1 trong 5 nội dung của phong trào thi đua “Xây dựng trƣờng học thân thiện, học sinh tích cực” giai đoạn 2008 - 2013 do Bộ Giáo dục và Đào tạo phát động. Trong quá trình nghiên cứu về giáo dục kỹ năng sống, tác giả đã sƣu tầm, tham khảo các tài liệu và hệ thống lại nhƣ sau: 1. Ở ngoài nước Ở các nƣớc phƣơng Tây, kỹ năng sống từ lâu đã đƣợc quan tâm. Mô hình giáo dục của Pháp thế kỉ XXI theo đề xuất của Edgard Morin là phải giảng dạy về hoàn cảnh con ngƣời (hiểu rõ con ngƣời là gì, con ngƣời sống và hoạt động nhƣ thế nào trong những điều kiện nào, con ngƣời xử lý bằng cách nào) và học cách sống.
Triết lý giáo dục Mỹ đầu thế kỉ XXI cũng cho rằng: Cần nâng cao kỹ năng giao lƣu qua nói, viết, đọc, nghe, cần phát triển khả năng suy ngẫm…Ngƣời Nhật đi vào thế kỉ XXI với mô hình không đánh giá học sinh, sinh viên qua năng lực hiểu các môn học mà đánh giá khả năng giải quyết các vấn đề của đời sống thực tiễn [3, tr. Việc giáo dục kỹ năng sống ở khu vực đã đƣợc nghiên cứu và triển khai ở nhiều nƣớc. Ở Lào, giáo dục kỹ năng sống đƣợc lồng ghép vào chƣơng trình đào tạo chính qui, không chính qui và các trƣờng sƣ phạm đào tạo giáo viên từ năm 1997. Tại Campuchia chƣơng trình giáo dục chính qui đã thực hiện việc tích hợp dạy kỹ năng sống vào bài học của các môn cơ bản từ lớp 1 đến lớp 12.
Tại Malaysia, Bộ Giáo dục coi KNS là môn kỹ năng của cuộc sống. Quan niệm về giáo dục KNS ở Bangladesh cho rằng nội dung giáo dục KNS phụ 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thuộc vào từng nhóm đối tƣợng, nội dung giáo dục thay đổi theo thời gian, các KNS có thể ở các cấp độ/mức độ khác nhau. Những lĩnh vực cơ bản trong giáo dục KNS ở Bangladesh là các kỹ năng xã hội (kỹ năng tồn tại, kỹ năng kinh tế, kỹ năng ngôn ngữ, xóa mù chữ.), các kỹ năng phát triển, các kỹ năng chuẩn bị cho tƣơng lai [5].2003 tại Bali- Inđônesia đã diễn ra hội thảo về giáo dục KNS trong giáo dục không chính quy với sự tham gia của 15 nƣớc. Qua báo cáo ở các nƣớc cho thấy có nhiều điểm chung nhƣng cũng có nhiều điểm riêng trong quan niệm về giáo dục KNS của các nƣớc.
Mục tiêu của giáo dục KNS trong giáo dục không chính quy ở hội thảo Bali là nhằm nâng cao tiềm năng của con ngƣời để có hành vi thích ứng và tích cực nhằm đáp ứng nhu cầu sự thay đổi, các tình huống của cuộc sống hàng ngày đồng thời tạo ra sự đổi thay và nâng cao chất lƣợng cuộc sống [5]. Quan niệm và nội dung giáo dục KNS ở các nƣớc không giống nhau và nội hàm của KNS đƣợc mở rộng hơn nhiều nội hàm chỉ gồm những khả năng tâm lý, xã hội. Có sự khác nhau về nội dung giáo dục KNS cả trong lĩnh vực giáo dục chính quy và không chính quy ở trong một quốc gia. Trong giáo dục phi chính quy những kỹ năng cơ bản nhƣ đọc, viết, nghe, nói đƣợc coi là những kỹ năng sống cơ sở và chú trọng đến kỹ năng kiếm sống.
Trong ý thức toàn cầu khái niệm kỹ năng sống bao hàm cả kỹ năng nghề nghiệp.Ở trong nước Thuật ngữ kỹ năng sống đƣợc Việt Nam biết đến bắt đầu bằng chƣơng trình của UNICEF vào năm 1996 “Giáơ dục kỹ nămg sống để bảo vệ sức khoẻ và phòng chống HIV/ADS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trƣờng”. Tham gia chƣơng trình đầu tiên này có ngành Giáo dục và Hội Chữ thập đỏ. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Giai đoạn 2 chƣơng trình đƣợc mang tên “Giáo dục sống khoẻ mạnh và kỹ năng sống” với sự tham gia của ngành Giáo dục, Trung ƣơng Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Quan niệm về kỹ năng sống cơ bản đối với từng nhóm đối tƣợng đƣợc vận dụng đa dạng hơn.
Khái niệm kỹ năng sống thực sự đƣợc hiểu với nội hàm đầy đủ và đa dạng sau hội thảo “Chất lƣợng giáo dục và kỹ năng sống” do tổ chức UNESCO tài trợ đƣợc tổ chức từ 23 - 25/10/2003 tại Hà Nội. Từ đó những ngƣời làm công tác giáo dục ở Việt Nam hiểu đầy đủ hơn về kỹ năng sống và trách nhiệm phải giáo dục kỹ năng sống cho ngƣời học. Năm học 2002 - 2003, Bộ Giáo dục và Đào tạo với sự hỗ trợ của tổ chức UNICEF đã xây dựng chƣơng trình “Giáo dục sống khoẻ mạnh và kỹ năng sống” cho học sinh trung học cơ sở với 9 chủ đề giáo dục: HIV/AIDS, xâm hại tình dục, ứng phó với tình huống căng thẳng, quyền trẻ em, sống khoẻ mạnh, thuốc lá rƣợu bia, ma tuý, sức khoẻ sinh sản vị thành niên, các bệnh lây qua đƣờng tình dục. Chƣơng trình đã đƣợc thực nghiệm ở một số nơi nhƣ Văn Lãng, Cao Lộc (Lạng Sơn), Đồ Sơn (Hải Phòng), Đống Đa, Hoàn Kiếm, Thanh Xuân (Hà Nội), Hóc Môn, Thủ Đức, Nhà Bè (Thành phố Hồ Chí Minh) và một số nơi khác.
Giai đoạn 2006 - 2010 chƣơng trình giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở đƣợc tiếp tục triển khai trong dự án “Thúc đẩy sự phát triển và tham gia của thanh thiếu niên”. Mục tiêu chung của dự án trong 5 năm là: Phát huy tiềm năng và thực hiện các quyền của thanh thiếu niên thông qua việc tiếp cận với giáo dục trung học cơ sở có chất lƣọng, trong đó có giáo dục kỹ năng sống trong nhà trƣờng và cộng đồng. Ngoài các chƣơng trình dự án do Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Y tế, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam…thực hiện, còn có một số tổ chức quốc tế đang triển khai chƣơng trình 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giáo dục kỹ năng sống tại Việt Nam nhƣ: Quỹ Dân số Thế giới của Hà Lan (WPF), Quỹ Nhi đồng Mĩ (Save the childrent US), Tổ chức Cứu trợ trẻ em Anh (SCUK), Quỹ Nhi đồng Nhật (Save the Childrent Japan) tại Việt Nam, Quỹ nhi đồng Úc (CCF Australia)…Các chƣơng trình dự án trên khá đa dạng nhƣng chủ yếu tập trung vào các nhóm yếu thế và nhóm có nguy cơ cao. Nội dung giáo dục kỹ năng sống đã tính đến sự phù hợp với đối tƣợng và vùng, địa phƣơng.
Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh phổ thông ở Việt Nam đã đƣợc quan tâm. Tƣ tƣởng đổi mới và cách tiếp cận chung của các chƣơng trình này là dựa trên cơ sở định hƣớng của 4 trụ cột trong giáo dục thế kỉ XXI, chuyển từ trang bị tri thức sang hình thành năng lực cho ngƣời học. Tuy vậy nội dung giáo dục kỹ năng sống ở bậc giáo dục phổ thông còn nhiều hạn chế, cách tổ chức giáo dục còn nặng về cung cấp thông tin, thông điệp mà chƣa chú trọng thoả đáng đến việc đặt ngƣời học vào những tình huống đƣợc trải nghiệm, đƣợc lựa chọn, đƣợc ra quyết định để hình thành và thay đổi hành vi mang tính tích cực. Luận văn “Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trường trung học phổ thông Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn” có kế thừa và phát triển những kết quả nghiên cứu trên.
Vấn đề mà luận văn quan tâm không chỉ là giáo dục kỹ năng sống nhƣ thế nào mà quan tâm tới những biện pháp quản lý của nhà trƣờng để thực hịên việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh một cách hiệu quả và thiết thực.Một số khái niệm cơ bản 1.Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường 1.Quản lý 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Bất kì lao động nào của xã hội hay cộng đồng ở qui mô tƣơng đối lớn đều cần đến một chừng mực nhất định của hoạt động quản lý. Các Mác khẳng định: “Tất cả mọi ngƣời lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên qui mô tƣơng đối lớn thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện chức năng chung phát sinh từ sự vận động những khí quan độc lập của nó. Một ngƣời độc tấu vĩ cầm thì tự mình điều khiển lấy mình, nhƣng một dàn nhạc thì phải có nhạc trƣởng” [3]. Quản lý là một phạm trù tồn tại khách quan đƣợc ra đời từ bản thân nhu cầu của mọi xã hội, mọi quốc gia và trong mọi thời đại.
Có nhiều quan điểm khác nhau về quản lý. Frederik Winslon Taylo (1856 – 1915) ngƣời Mĩ, tác giả của “Kỉ nguyên vàng” đã thể hiện tƣ tƣởng cốt lõi của mình trong quản lý là “Mỗi loại công việc dù nhỏ nhất đều phải chuyên môn hoá và đều phải quản lý chặt chẽ”; “Quản lý là biết đƣợc điều bạn muốn ngƣời khác làm và sau đó thấy họ hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng, nhà xuất bản Giáo dục năm 1998 thì “Quản lý là tổ chức và điều khiển hoạt động của một đơn vị, cơ quan” Theo Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ: “Quản lý là một quá trình định hƣớng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống nhằm đạt đƣợc những mục tiêu nhất định” [18, tr. Một định nghĩa khác về quản lý theo tài liệu trƣờng Đại học Giáo dục Đại học Quốc gia Hà Nội thì: Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra [16]. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quản lý là một khái niệm rộng, thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau.
Quản lý là một dạng hoạt động xã hội và tồn tại với tƣ cách là một hệ thống bao gồm chủ thể, khách thể và phƣơng tiện quản lý.