CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO TRẺ Ở CÁC TRƯỜNG MẪU GIÁO 1. Khái lược lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu ở ngoài nước Mỗi quốc gia khác nhau có những quan niệm khác nhau về giáo dục kỹ năng sống. Ở một số nước, kỹ năng sống được hướng vào giáo dục vệ sinh, dinh dưỡng và phòng bệnh.
Ở một số nước khác, giáo dục kỹ năng sống được hướng vào giáo dục hành vi, cách ứng xử, giáo dục an toàn giao thông bảo vệ môi trường hay giáo dục lòng yêu hoà bình. Kỹ năng sống thường gắn với một bối cảnh để người ta có thể hiểu và thực hành một cách cụ thể. Giáo dục kỹ năng sống là giáo dục cách sống tích cực trong xã hội hiện đại do yêu cầu xã hội đặt ra, có liên quan đến việc làm, sức khỏe, các vấn đề xung đột, bạo lực cá nhân, của cộng đồng và xã hội. Từ đó, có thể thấy, giáo dục kỹ năng sống cho trẻ là quá trình hình thành, rèn luyện hoặc thay đổi các hành vi theo hướng tích cực, phù hợp với mục đích phát triển toàn diện nhân cách con người, con người có tri thức, giá trị, thái độ, kỹ năng phù hợp đáp ứng với yêu cầu cuộc sống hiện đại.
Như vậy, giáo dục kỹ năng sống ngoài việc nói cho trẻ biết thế nào là đúng, thế nào là sai, còn là việc giúp trẻ tự lựa chọn, đưa ra hướng giải quyết và ứng phó với các tình huống trong thực tế cuộc sống. Giáo dục kỹ năng sống nhấn mạnh việc trẻ phải ý thức về giá trị bản thân, biết quý trọng bản thân. Đó chính là nền tảng cho sự phát triển của nhân cách lành mạnh và tự tin của bản thân trẻ. Nói tóm lại, giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo là quá trình tổ chức các hoạt động chăm sóc và giáo dục nhằm hình thành, phát triển năng lực tâm lí - xã hội cho trẻ (hình thành hành vi tích cực, thay đổi hành vi, thói quen tiêu cực) bằng cách trang bị cho trẻ cả kiến thức, giá trị, thái độ và các kỹ năng 8 thích hợp, từ đó trẻ có thể thực hiện các hành động một cách có hiệu quả trong những điều kiện xác định.
Kỹ năng sống của trẻ mẫu giáo không tự nhiên mà có, chúng được hình thành và phát triển theo một quá trình như quá trình hình thành một kỹ năng bất kỳ, trong những điều kiện xác định, bao gồm các bước: Quan sát, bắt chước/tập, và thực hành thường xuyên. Tiêu chuẩn để xác định sự hình thành kỹ năng được thể hiện ở sự hiểu biết, tính đúng đắn, sự thành thạo, linh hoạt. Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non rất được các nước trên thế giới quan tâm và được xem là nhiệm vụ quan trọng về chiến lược phát triển kinh tế đất nước của các trường. Kỹ năng sống là tập hợp sản phẩm của nhiều kỹ năng được phát triển đồng thời trên thực tế, khiếu hài hước khiến một người có thể quản lý và kiểm soát tốt tình huống trong tương lai.
Điều này cũng giúp con người học được cách giải phóng sự tức giận, sợ hãi, căng thẳng và nâng cao chất lượng cuộc sống. Ở Nga, giáo dục kỹ năng sống cho trẻ được tổ chức thông qua trò chơi đóng vai, hoạt động thực tiễn, hoạt động sáng tạo, lời nói.nhằm hình thành cho trẻ nhiều kỹ năng như: kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng tự học, kỹ năng sáng tạo, kỹ năng giao tiếp ứng xử tạo mối quan hệ. Tuy nhiên vấn đề đào tạo giáo viên ở Nga chưa được quan tâm, việc tổ chức các hoạt động để giáo dục kỹ năng sống chưa được thường xuyên, còn mang tính qua loa. Ở Phần Lan, thay vì học kiến thức và vì điểm số, học sinh ở đất nước này được dạy để phát triển các kỹ năng sống.
Thông qua các trò chơi, các em không chỉ được học về toán học, văn học mà còn được học các kỹ năng khác như: giao tiếp và hợp tác, tính sáng tạo và tư duy phản biện, có trách nhiệm và khả năng đột phá, thảo luận và thương thuyết, ra quyết định và giải quyết vấn đề, kỹ năng sống và công việc, kỹ năng sử dụng công nghệ và phương tiện truyền thông. Tại Campuchia, giáo dục kỹ năng sống với vấn đề nổi bật nhất là việc xác lập các kỹ năng cần huấn luyện cho từng lứa tuổi cũng như phương pháp 9 hiệu quả, kỹ năng sống được coi là năng lực mà con người cần phải có để nâng cao các điều kiện sống có hiệu quả nhằm phát triển quốc gia. Chương trình giáo dục kỹ năng sống trong các trường học đều hướng tới giúp người học có khả năng áp dụng kiến thức của các môn học khác nhau vào cuộc sống hiện thực để sau khi ra trường sẽ là người sống tích cực và có ích cho xã hội. Cuốn sách:“Những giá trị sống và kỹ năng sống dành cho trẻ từ 3 - 7 tuổi” của tác giả Diane Tillman, Nhà xuất bản Trẻ đã khái quát những giá trị sống và kỹ năng sống cho trẻ gồm những kỹ năng sống và 12 bài học giá trị về các chủ đề Hòa bình, Tôn trọng, Yêu thương, Khoan dung, Trung thực, Khiêm tốn, Hợp tác, Hạnh phúc, Trách nhiệm, Giản dị, Tự do và Đoàn kết.
Phần cuối của cuốn sách còn có 10 phụ lục về một số chủ đề; mỗi phụ lục là một câu chuyện, một ví dụ minh họa, một trò chơi trắc nghiệm theo các thẻ tình huống sát thực với chủ đề được đề cập hoặc các bài tập thư giãn, tập trung…Thông qua các tình huống, các chủ đề để giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 3 đến 6 tuổi. Những nghiên cứu ở trong nước Giáo dục kỹ năng sống đã thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, từ năm 1979 trở về trước đã có một số tài liệu đề cập đến. Trong thư gửi Hội nghị các cán bộ phụ trách nhi đồng toàn quốc, Hồ Chủ Tịch nhắc tới một khía cạnh khác của nội hàm khái niệm khi Người viết “Trong lúc học, cũng cần làm cho chúng vui, trong lúc vui cũng cần làm cho chúng học. Ở trong nhà, trong trường, trong xã hội chúng đều vui học”.
Ở Việt Nam, thuật ngữ kỹ năng sống được biết đến bắt đầu từ chương trình của UNICEF (1996), “giáo dục kỹ năng sống để bảo vệ sức khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường”. Quan niệm về kỹ năng sống được giới thiệu trong chương trình này bao gồm những kỹ năng cốt lõi: tự nhận thức, giao tiếp, xác định giá trị, kiên định, đặt mục tiêu… Đối với ngành giáo dục, việc giáo dục kỹ năng sống cho người 10 học đã trở thành một nhiệm vụ quan trọng đồng thời được nhiều nhà giáo dục quan tâm nghiên cứu. Kể từ năm học 2008 - 2009, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã phát động phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” ở tất cả các trường trên toàn quốc, nhằm mang lại cho trẻ một môi trường giáo dục an toàn thân thiện, hiệu quả, phù hợp điều kiện địa phương và đáp ứng nhu cầu xã hội. Hưởng ứng phong trào này, Trung tâm Giáo dục môi trường và các vấn đề xã hội đã phối hợp với Ban dự án Phát triển giáo dục trung học phổ thông xây dựng kế hoạch tổ chức hoạt động nhằm hỗ trợ triển khai đến cơ sở một số nội dung thiết thực.
Một trong những hoạt động đó là chương trình tập huấn giáo dục kỹ năng sống và bình đẳng giới, được tổ chức tại Hà Nội tháng 10 năm 2008 cho các giáo viên cốt cán của một số trường trung học phổ thông thuộc 11 tỉnh phía Bắc. Mặc dù đã có tương đối nhiều chương trình, dự án thực hiện, triển khai và tài trợ trong việc giáo dục kỹ năng sống nói chung và kỹ năng sống cho trẻ em nói riêng nhưng cho tới thời điểm hiện tại có rất ít các công trình nghiên cứu mang tính khoa học về thực trạng giáo dục kỹ năng sống cũng như nhu cầu được giáo dục kỹ năng sống của trẻ mẫu giáo. Năm 2010, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đinh Thị Kim Thoa, Bùi Thị Thúy Hằng đã nghiên cứu về đặc điểm tâm lý trẻ mầm non, những vấn đề chung về kỹ năng sống, về phương pháp, mục tiêu và cách tổ chức kỹ năng sống cho trẻ mầm non qua quyển "Giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống cho trẻ mầm non" [19]. Sách: “Hướng dẫn và rèn luyện kỹ năng sống cho trẻ mầm non”, của Bộ Giáo dục và Đào tạo (2012), do Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội phát hành [8] đã trình bày nội dung, hình thức rèn luyện kỹ năng sống cho trẻ mầm non để giáo viên, phụ huynh học sinh tham khảo và có thể áp dụng vào quá trình giáo dục và rèn luyện kỹ năng sống cho trẻ.
Một trong những người đầu tiên có những nghiên cứu mang tính hệ thống về kỹ năng sống và giáo dục kỹ năng sống ở Việt Nam là tác giả Nguyễn Thanh Bình, Nguyễn Thị Thu Hà, 11 Nguyễn Công Khanh. Với một loạt các bài báo, các đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ và giáo trình, tài liệu tham khảo [16, 22, 25 ], các tác giả đã góp phần đáng kể vào việc tạo ra những hướng nghiên cứu về kỹ năng sống và giáo dục kỹ năng sống ở Việt Nam. Tác giả Trần Kiểm (2012), cho rằng: Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất [27]. Từ cách tiếp cận về quản lý và quản lý giáo dục của các nhà khoa học, theo tác giả: Quản lý giáo dục chính là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý, nhằm đưa hoạt động giáo dục ở cấp vĩ mô và vi mô (nhà trường) trong hệ thống giáo dục quốc dân, đạt tới kết quả mong đợi một cách hiệu quả nhất.