Phần mở đầu: Đề cập đến một số vấn đề chung của đề tài. Phần nội dung: Gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho Học sinh trƣờng Tiểu học. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho Học sinh tại các trƣờng Tiểu học huyện Tuy Phƣớc, tỉnh Bình Định. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho Học sinh tại các trƣờng Tiểu học huyện Tuy Phƣớc, tỉnh Bình Định.
Phần kết luận và khuyến nghị Danh mục tài liệu tham khảo Phụ lục 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRƢỜNG TIỂU HỌC 1. Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Ngày nay, xã hội đang có sự thay đổi toàn diện về kinh tế, văn hóa và xã hội, lối sống với tốc độ nhanh đã làm nảy sinh những vấn đề mà trƣớc đây con ngƣời chƣa gặp, chƣa trải nghiệm, chƣa phải ứng phó, đƣơng đầu. Có vấn đề đã xuất hiện trƣớc đây, nhƣng nó chƣa phức tạp, khó khăn và đầy thách thức nhƣ trong xã hội hiện đại, nên con ngƣời dễ hành động theo cảm tính và không tránh khỏi rủi ro.
Nói cách khác, để thành công và hạnh phúc trong xã hội hiện đại này thì con ngƣời cần phải có kĩ năng sống. Ở thời kỳ Phục Hƣng, Thomas More (1478-1535) đã đề cập đến giáo dục kỷ năng lao động, song theo ông, mỗi ngày chỉ làm việc 6 giờ, thời gian còn lại để học văn hóa và sinh hoạt xã hội. Đến những năm 90 của thế kỷ XX, GDKNS đƣợc UNICEF đƣa vào trong một số chƣơng trình giáo dục, chƣơng trình giáo dục giá trị sống với 12 giá trị cơ bản cần đƣợc giáo dục cho thế hệ trẻ đã lan rộng ra khắp thế giới. Diễn đàn thế giới về giáo dục cho mọi ngƣời họp tại Senengan (2000) Chƣơng trình hành động Dakar đã đề ra 6 mục tiêu, trong đó Mục tiêu 3 đã đặt trách nhiệm cho:“Mỗi quốc gia phải đảm bảo cho người học được tiếp cận chương trình GDKNS phù hợp”, và mục tiêu 6 yêu cầu: Khi đánh giá chất lượng giáo dục cần phải đánh giá KNS của người học”, nghĩa là KNS cần đƣợc coi là một nội dung của chất lƣợng giáo dục.
Nhƣ vậy GDKNS cho ngƣời học là trách nhiệm của mỗi quốc gia và đƣợc triển khai theo hƣớng trang bị cho ngƣời học những kỷ năng sống cốt lõi để ngƣời học có thể ứng phó với các tình huống trong cuộc sống, mặt khác cần triển khai các nội dung giáo dục tiếp cận kỹ năng sống không chỉ dừng lại ở nhận thức, thái độ mà điều quan trọng làm thay đổi hành vi theo hƣớng tích cực. Ngày nay, do xu thế hội nhập và sự phát triển về kinh tế - xã hội của các quốc gia nên giáo dục của các nƣớc đang có sự thay đổi theo định 7 hƣớng cơ bản nhằm tạo một thế hệ năng động, sáng tạo để thích nghi với sự thay đổi nhanh chóng của xã hội. Những năm gần đây, GDKNS đƣợc rất nhiều nƣớc trên thế giới đƣa vào dạy trong nhà trƣờng phổ thông dƣới nhiều hình thức khác nhau, trong đó có 143 nƣớc đã đƣa vào chƣơng trình chính khóa ở tiểu học và trung học. Triết lý giáo dục Mỹ đầu thế kỷ XXI cho rằng: Cần nâng cao KN giao lƣu qua nói, viết, đọc, nghe, cần phát triển khả năng suy ngẫm….
Nƣớc Mỹ, quốc gia phát triển nhất thế giới, giáo dục không có một cuốn sách cụ thể chuyên biệt về KNS cho trẻ mà các bài học sẽ đƣợc lồng ghép vào nhiều tiết học khác nhau nhƣ đọc sách, ra sân tập thể thao, đá bóng, chơi các trò chơi ngoài trời, tổ chức dã ngoại, trong mỗi lớp học đều đƣợc dành không gian mở với nhiều vật dụng học tập, vui chơi.… Còn ở Nhật Bản là một trong những quốc gia rất chú trọng đến GDKNS ngay từ những năm tháng đầu đời. Ở các trƣờng học, Nhật Bản không có môn học KNS riêng lẻ mà việc dạy KNS đƣợc thông qua các môn học, đặc biệt là môn đạo đức ở trong trƣờng học. Ở Nhật không đánh giá HS, sinh viên qua năng lực hiểu biết các môn học mà đánh giá khả năng giải quyết các vấn đề của đời sống thực tiễn, khả năng làm chủ bản thân trong tự nhiên và xã hội. Chƣơng trình giáo dục chính quy của Campuchia đã thực hiện việc tích hợp dạy KNS vào bài học của các môn cơ bản từ lớp 1 đến lớp 12.
Ở Lào GDKNS lại đƣợc lồng ghép vào chƣơng trình đào tạo chính quy, không chính quy và trƣờng sƣ phạm đào tạo giáo viên từ năm 1997. Có thể nói, GDKNS cho ngƣời học từ trƣớc đến nay đã đƣợc nhiều nƣớc trên thế giới quan tâm chú trọng, tuy nhiên mỗi quốc gia đều có quan niệm, nội dung, hình thức, phƣơng pháp GDKNS khác nhau nhƣng đều hƣớng đến một mục tiêu chung đó là Nhằm nâng cao tiềm năng của con ngƣời để có hành vi thích ứng và tích cực nhằm đáp ứng nhu cầu, sự thay đổi, các tình huống của cuộc sống hàng ngày, đồng thời tạo ra sự đổi thay và nâng cao chất lƣợng cuộc sống. Xã hội ngày nay với xu thế hội nhập và sự phát triển của các quốc gia, giáo dục của các nƣớc đang có những định hƣớng cơ bản nhằm tạo một thế hệ năng động, sáng tạo, thích nghi với hoàn cảnh sống luôn thay đổi, trong đó KNS là thành tố cốt lõi của chất lƣợng giáo dục. Các nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam, GDKNS đƣợc quan tâm bắt đầu từ những năm 1996 thông qua dự án của UNICEF phối hợp với Bộ GD&ĐT và Hội Chữ thập đỏ Việt Nam đó là: GDKNS để bảo vệ sức khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trƣờng.
Từ đó cho đến nay, chƣơng trình GDKNS dần đƣợc mở rộng ra cả về đối tƣợng lẫn nội dung, nhƣ các KNS nhằm giáo dục về quyền trẻ em, sức khỏe sinh sản, giới tính cho HS và trẻ em, hoặc chƣơng trình GDKNS trong vấn đề bảo vệ môi trƣờng, bảo vệ sức khỏe, chống bạo lực trong gia đình, xóa đói giảm nghèo cho các chị em phụ nữ; chƣơng trình GDKNS về phòng chống lạm dụng tình dục, giáo dục phòng chống ma túy, phòng chống mại dâm, phòng chống tai nạn bom mìn. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có Chỉ thị 40 về việc phát động phong trào thi đua Xây dựng trƣờng học thân thiện, HS tích cực ngày 22 tháng 7 năm 2008, và Kế hoạch số 307/KH-BGD&ĐT ngày 22/07/2008 về triển khai Xây dựng trƣờng học thân thiện, HS tích cực trong các trƣờng phổ thông giai đoạn 2008 – 2013, trong đó có nội dung Rèn luyện KN sống cho HS nhƣ: Rèn luyện KN ứng xử hợp lý với các tình huống trong cuộc sống, thói quen và KN làm việc, sinh hoạt theo nhóm; Rèn luyện sức khỏe và ý thức bảo vệ sức khỏe, KN phòng, chống tai nạn giao thông, đuối nƣớc và các tai nạn thƣơng tích khác; Rèn luyện KN ứng xử văn hóa, chung sống hòa bình, phòng ngừa bạo lực và các tệ nạn xã hội. Văn bản số 4718/2010/BGDĐT-GDTrH về việc Hƣớng dẫn thực hiện nhiệm vụ Giáo dục trung học, trong các nhiệm vụ trọng tâm“Tiếp tục đổi mới phương thức giáo dục đạo đức, giáo dục ngoài giờ lên lớp, giáo dục hướng nghiệp theo tinh thần lồng ghép và tích hợp; chú trọng giáo dục giá trị, GDKNS cho HS”. Tuy nhiên cho đến nay, GDKNS cho HS ở Việt Nam vẫn chƣa đƣợc đƣa vào khung chƣơng trình giáo dục chính quy mà vẫn chỉ lồng ghép, tích hợp vào các môn học, các hoạt động ngoại khóa của nhà trƣờng.
Thời gian qua đã có các luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục nghiên cứu về vấn đề GDKNS ở trƣờng tiểu học nhƣ: Nguyễn Thị Thu Hằng: Luận văn Thạc sĩ Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các trƣờng tiểu 9 học trên địa bàn huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội ( 2015); Hoàng Thúy Nga (2016), Quản lý hoạt động Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học thành phố Hà Nội, Luận văn Tiến sĩ Khoa học Giáo dục, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam; Trần Lƣu Hoa: Luận văn Tiến sĩ Quản lý giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động trải nghiệm cho học sinh ở các trƣờng tiểu học Thành phố Hà Nội trong bối cảnh hiện nay ( 2018); Nguyễn Văn Đƣợc: Luận văn Thạc sĩ Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở các trƣờng tiểu học huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh (2020);. Tuy nhiên, cho đến nay chƣa có công trình nào nghiên cứu về Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở các trƣờng tiểu học huyện Tuy Phƣớc, tỉnh Bình Định. Các khái niệm cơ bản 1. Quản lý Quản lí là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hƣớng của chủ thể (ngƣời quản lí, tổ chức quản lí) lên khách thể (đối tƣợng quản lí) về các mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế.
bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phƣơng pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trƣờng và điều kiện cho sự phát triển của đối tƣợng. Về nội dung, thuật ngữ quản lý có nhiều cách hiểu khác nhau. Quản lý là các hoạt động đƣợc thực hiện nhằm bảo đảm sự hoàn thành công việc qua những nỗ lực của ngƣời khác. Quản lý là công tác phối hợp có hiệu quả các hoạt động của những ngƣời cộng sự khác cùng chung một tổ chức.
Quản lý là một hoạt động thiết yếu đảm bảo những nỗ lực cá nhân nhằm đạt đƣợc các mục đích của nhóm.Taylor cho rằng: "Quản lý là biết chính xác điều bạn muốn ngƣời khác làm và sau đó thấy rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất". Theo Trần Quốc Thành: "Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý để chỉ huy, điều khiển, hƣớng dẫn các quá trình xã hội của nhà quản lý, phù hợp với quy luật của khách quan". 10 Frederick Winslow Taylor, ngƣời Mỹ đã sáng lập thuyết quản lý khoa học thì cho rằng "Quản lý là biết đƣợc chính xác điều bạn muốn ngƣời khác làm, và sau đó hiểu đƣợc rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất, rẻ nhất".