phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh ở các trường THCS. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh ở các trường THCS quận Đống Đa, thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh ở các trường THCS quận Đống Đa, thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay. 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG PHÒNG, CHỐNG TỆ NẠN XÃ HỘI CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu về giáo dục kỹ năng sống và quản lý giáo dục kỹ năng sống Trong lịch sử xã hội loài người, để tồn tại và phát triển, con người đã có những kỹ năng để thích nghi với môi trường sống và để sinh tồn như kỹ năng săn bắt, hái lượm, trồng trọt…có từ thời nguyên thủy. Những kỹ năng đó đã được các thế hệ truyền dạy cho nhau từ thế hệ này qua thế hệ khác và theo thời gian càng ngày càng có sự sáng tạo và phát triển. Ngày nay khi xã hội ngày càng phát triển và phát triển tới trình độ cao thì kỹ năng sống cũng phải mở rộng phạm vi để thích ứng, nó không chỉ là bản năng sống mà còn là khả năng thích ứng với xã hội.
Ngoài ra, nhu cầu vận dụng kỹ năng sống một cách trực tiếp hay gián tiếp được nhấn mạnh trong nhiều khuyến nghị mang tính quốc tế. Năm 2001: UNICEF thông qua chương trình “Giáo dục kỹ năng sống để bảo vệ sức khỏe và chống HIV/AIDS cho thanh niên trong và ngoài nhà trường” [32]. Giáo dục kỹ năng sống còn được đề cập trong cả Diễn đàn giáo dục Thế giới Dakar tháng 5/2000; trong việc thực hiện Công ước Quyền trẻ em; trong Hội nghị quốc tế về dân số và phát triển giáo dục cho mọi người. Đặc biệt, trong tuyên bố về cam kết của Tiểu ban đặc biệt của Liên Hợp quốc về HIV/AIDS (tháng 6 năm 2001) các nước đồng ý cho rằng “Đến năm 2005 đảm bảo rằng ít nhất có 90% và vào năm 2010 ít nhất có 95% thanh niên và phụ nữ tuổi từ 15 đến 24 có thể tiếp cận thông tin giáo dục và dịch vụ cần thiết để phát triển kỹ năng sống để giảm những tổn thương do sự lây nhiễm HIV” [23, tr.
Bên cạnh đó, sự ra đời của các tác phẩm cũng giúp cho người đọc có thêm được nhiều thông tin đầy đủ hơn về giáo dục kỹ năng sống. Trong cuốn sách “Chương trình giảng dạy kỹ năng sống” (2006) của tác giả Gracious Thomas đã nhấn mạnh vai trò của giáo viên nhằm giáo dục kỹ năng sống cho trẻ dựa vào hệ thống giá trị cho công tác phòng, chống nhiễm HIV/AIDS. Còn trong cuốn “Rèn 7 luyện kỹ năng sống cho học sinh – Thường thức an toàn” của nhà xuất bản Quảng Tây năm 2008 để giúp trẻ nắm được những nguyên tắc cơ bản thoát khỏi cảnh nguy hiểm như: Giữ bình tĩnh, không ngừng phát tín hiệu cầu cứu…Còn tác giả Carre Lynn trong tác phẩm “Giúp trẻ hòa nhập với xã hội” (2008) đã giới thiệu nhiều trò chơi vận động có tác dụng hỗ trợ phát triển một số kỹ năng sống của trẻ như kỹ năng giao tiếp ứng xử xã hội, kỹ năng tự lập, kỹ năng phòng, chống [23, tr. Có thể nói ở nước ngoài, thanh thiếu niên đã được giáo dục những kỹ năng sống cơ bản về tình huống sẽ xảy ra trong cuộc sống, cách đối diện, đương đầu để vượt qua những khó khăn đó cũng như cách tránh những mâu thuẫn, xung đột, bạo lực giữa người với người.
Đó là những kỹ năng sống quan trọng để con người có khả năng ứng phó với những rủi ro trong cuộc sống. Những kỹ năng sống này đã được trang bị trong nhà trường hoặc thông qua các chương trình do các tổ chức thực hiện. Song các nghiên cứu về quản lý giáo dục kỹ năng sống còn ít được chú ý. Từ những năm 1995 – 1996, thuật ngữ “kỹ năng sống” bắt đầu được biết đến ở Việt Nam qua dự án của UNICEF phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng Hội Chữ thập đỏ Việt Nam với chương trình “Giáo dục kỹ năng sống để bảo vệ sức khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường”.
Theo UNICEF: “Kỹ năng sống là những kỹ năng tâm lý xã hội có liên quan đến tri thức, những giá trị và thái độ, cuối cùng thể hiện ra bằng những hành vi làm chon các cá nhân có thể thích nghi và giải quyết có hiệu quả các yêu cầu và thách thức của cuộc sống” [32]. Năm 2003, hội thảo “Chất lượng giáo dục kỹ năng sống” do UNESCO phối hợp với Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam đã làm rõ hơn, đầy đủ hơn nội hàm khái niệm kỹ năng sống. Tổ chức UNESO cho rằng: Kỹ năng sống là khả năng thích nghi và hành vi tích cực cho phép cá nhân có đầy đủ khả năng đối phó có hiệu quả với nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày [31]. Năm 2007, với đề tài khoa học và công nghệ cấp Bộ “Giáo dục một số kỹ năng sống cho học sinh trung học phổ thông” do tác giả Nguyễn Thanh Bình làm chủ nhiệm, kết quả nghiên cứu cho thấy kỹ năng tìm kiếm sự giúp đỡ của các em còn hạn chế.
Trên cơ sở tìm hiểu thực trạng, xác định nhu cầu giáo dục kỹ năng sống, đề tài đã xây dựng chương tình giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp [5]. 8 Việc giáo dục kỹ năng sống ở cấp THCS được thực hiện chủ yếu thông qua chương trình các môn học và các hoạt động giáo dục của nhà trường cùng với một số chương trình dự án do nước ngoài tài trợ. Cụ thể với cấp THCS, những môn học được khai thác và lồng ghép giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở một số môn đặc thù như: Giáo dục công dân, Ngữ Văn, Địa lý, Sinh học và hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp. Có thể nói, ở Việt Nam trong những năm gần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề giáo dục kỹ năng sống, một số công trình đã đi sâu nghiên cứu một số lĩnh vực và phương pháp giáo dục kỹ năng sống, các đề tài đã phân tích làm rõ thực trạng và tính cấp bách của vấn đề giáo dục kỹ năng sống, một số đề tài đã đề cập đến những hình thức giáo dục kỹ năng sống cụ thể trong nhà trường phổ thông, đề xuất các biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh, sinh viên.
Tuy nhiên hiện nay ở các trường THCS việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh chỉ mới thực hiện ở mức độ tích hợp ở một số môn học: Ngữ Văn, Lịch sử, Giáo dục công dân, Địa lý, Sinh học…mà chưa khai thác triệt để nội lực của giáo dục kỹ năng sống thông qua các hình thức như: Hoạt động ngoại khóa, trải nghiệm sáng tạo, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp… để thực hiện có hiệu quả các nội dung giáo dục kỹ năng sống cho học sinh. Giáo dục kỹ năng sống là một trong những nội dung quan trọng, cần thiết trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện của nhà trường phổ thông. Từ năm học 2009 – 2010, Bộ GDĐT đã đưa chương trình giáo dục kỹ năng sống lồng ghép vào các hoạt động giáo dục trong nhà trường. Theo đó, trong những năm gần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống.
Các nghiên cứu đã có nhiều những đóng góp quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần làm sáng tỏ và hệ thống hóa lý luận về quản lý giáo dục kỹ năng sống; đề xuất những biện pháp quản lý hữu hiệu, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện và thực hiện mục tiêu giáo dục trong thời kỳ mới. Ở trình độ nghiên cứu thạc sĩ có thể kể đến công trình nghiên cứu của các tác giả như: Nguyễn Thị Hưng, Trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội (2012) nghiên cứu về “Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các trường THCS trên địa bàn huyện Tam Dương”; tác giả Lê Thị Lan Hương, Trường ĐHSP Hà Nội (2014) với đề tài “Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học 9 sinh các trường THCS quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng”; Tác giả Nguyễn Thị Thanh Nhàn ĐHSP Hà Nội (2014): “Quản lý giáo dục giá trị sống – Kỹ năng sống cho học sinh tại trường THPT Nguyễn Siêu, thành phố Hà Nội”; Tác giả Nguyễn Thị Hạnh ĐHSP Hà Nội (2015): “Quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống – Kỹ năng sống cho học sinh tại trường THPT Thanh Oai A, thành phố Hà Nội”; Tác giả Đinh Thị Thiên ĐHSP Hà Nội (2015): “Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các trường THCS thành phố Hòa Bình”; Luận văn thạc sĩ của tác giả Trần Thị Nhung – Học viện quản lý giáo dục (2016); với đề tài “Quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống – kỹ năng sống cho học sinh trường THCS Thái Thịnh, Đống Đa, Hà Nội trong bối cảnh đổi mới giáo dục”; Luận văn của thạc sĩ Trần Thị Thu Hiền – Trường Đại học giáo dục (2017) với đề tài “Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trường THPT Quế Lâm, tỉnh Phú Thọ” đã làm sáng tỏ thêm nội hàm của các khái niệm về kỹ năng sống, giáo dục kỹ năng sống, đặc trưng của giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống cho học sinh trung học. Bên cạnh đó đã có một số luận án tiến sĩ về quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống như luận án “Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học phổ thông thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp” của tác giả Phan Thanh Vân (2010) đã cho thấy thực trạng giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học phổ thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp và đã đề xuất một số giải pháp cải tiến hoạt động trên. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu nói trên đã tập trung làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về kỹ năng sống và quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống.
Đã đưa ra những biện pháp quản lý phù hợp cho từng thời điểm, từng nhà trường và địa phương.