Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC GIỚI TÍNH CHO HỌC SINH TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Liên quan đến hoạt động GDGT và quản lý hoạt động GDGT cho HSTH được nhiều nhà quản lý, các nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu. Các nghiên cứu đa dạng từ những vấn đề chung nhất về hoạt động GDGT và quản lý GDGT trong các cơ sở GD như quan niệm về GDGT, vai trò của GDGT, các nguyên tắc quản lý, phương pháp thực hiện,… đến các nghiên cứu về thực tế hoạt động GDGT cho HS tiểu học. Trong phạm vi công trình nghiên cứu này, tác giả khái quát một số nghiên cứu có liên quan đến GDGT và quản lý hoạt động GDGT ở nước ngoài và trong nước: 1.
Những nghiên cứu nước ngoài Trong cuốn sách “Sơ lược về GD giới tính” của M.E đã nêu rằng GDGT là một vấn đề được nhiều nước ở Châu Âu tiến hành rất sớm. Năm 1921 Thụy Điển đã nghiên cứu vấn đề GDGT. Ngay từ giai đoạn đó Thụy Điển đã coi GDGT là một nhiệm vụ quan trọng và là quyền bình đẳng nam nữ chính là trách nhiệm của công dân đối với xã hội. Năm 1942 Bộ GD Thụy Điển quyết định đưa thí điểm GDGT vào trong nhà trường và đến năm 1956 thì dạy phổ cập ở tất cả các loại trường từ tiểu học đến Trung học.
Tại Indonexia trong công tác GDGT cho HSTH, các phương tiện truyền thông. Phù hợp với tuyên bố này, nhà nghiên cứu Kurniastuti Lestari, (2006) nói rằng thông qua các phương tiện truyền thông, wayang kagok là một phương tiện di động và hiệu quả bất cứ nơi nào bởi vì nó là một phương tiện truyền thông in ấn, như một phương tiện có thể truyền đạt tìm hiểu về GDGT cho trẻ từ 7-12 tuổi. (Kurniastuti Lestari, 2006) Ở Hàn Quốc, theo tác giả Kim JM, Lee MS, Song HJ (2008) trong bài báo khoa học An analysis of risk factors for falls in the eloderly by gender (tạm dịch là: Phân tích các yếu tố nguy cơ xấu ảnh hưởng đến trẻ em về vấn đề giới tính) đã chỉ ra để GDGT cho HS tiểu học đạt hiệu quả về nội dung và cách truyền đạt phải khác nhau, nhất là theo giai đoạn phát triển của trẻ như: sở thích, nhu cầu, đặc điểm, v. nên được xem xét.
Và cùng quan điểm về GDGT cho HSTH, tác giả Lee JH, Yu HK, Cho YS 8 (2011) trong bài báo tạp chí The development of a parents-involved group counseling program to improve sexual-consciousness of elementary school students in higher grade (tạm dịch là: Xây dựng chương trình tư vấn nhóm có sự tham gia của CMHS nhằm nâng cao nhận thức về giới tính cho HS tiểu học) trình bày như sau: trường tiểu học bao giờ hết các nghiên cứu can thiệp GD giới tính trong đời sống dựa trên phương pháp GD giới tính truyền thống và tư vấn nhóm. Còn theo quan điểm của tác giả Iqbal, A.M (2013) trong cuốn sách Konsep Pemikiran Al-Ghazali tentang Pendidikan, Madiun (tạm dịch là: Khái niệm tư tưởng về GD của Al-Ghazali, Madiun) chỉ ra rằng, trường học trở thành môi trường thứ hai sau gia đình, và GV là cha mẹ thực sự. Al- Ghazali có nhiệm vụ hướng dẫn, chỉ đạo, GD con cái không chỉ cho đến khi trưởng thành thậm chí còn nhiều hơn thế, trong đó có nhiệm vụ hướng dẫn, chỉ đạo, GD trẻ em vào những giờ cụ thể được bàn giao cho nhà trường lấy GV làm mũi nhọn của GD. Còn Weatherley và cộng sự (trong Gambaran Pemahaman Anak Usia Sekolah Dasar Tentang Pendidikan Seksual Dalam Upaya Pencegahan Kekerasan Seksualpada Anak, 2017) giải thích rằng phòng chống bạo lực tình dục sẽ không đạt hiệu quả tối ưu nếu chỉ có cha mẹ GDGT, nhưng sẽ hiệu quả hơn nếu nhà trường cũng hỗ trợ GDGT cho lứa tuổi học đường những đứa trẻ.
Những tiến bộ công nghệ hiện tại cũng là một thách thức trong việc cung cấp dịch vụ phù hợp nhằm GDGT cho trẻ. Những nghiên cứu ở Việt Nam Một số đề tài luận văn thạc sĩ về GDGT có thể kể đến là: Năm 1994, đề tài luận văn thạc sĩ: “Thực trạng nhận thức và thái độ của HS đối với một số nội dung GD giới tính” của Nguyễn Văn Phương. Năm 1998, đề tài luận văn tốt nghiệp: “Khảo sát thực trạng nhận thức, thái độ của HS về một số vấn đề cơ bản của nội dung GDGT tại một số trường tiểu học” của Lê Khắc Mỹ Phượng. Từ năm 1985, có rất nhiều công trình nghiên cứu của nhiều tác giả về giới tính, về tình dục về hôn nhân gia đình đã bắt đầu được công bố.
Các tác giả Đặng Xuân Hồi, Trần Trọng Thủy, Phạm Hoàng Gia, Nguyễn Thị Đoan, Nguyễn Thị Tho, Bùi Ngọc Oánh, Lê Nguyên, Phạm Ngọc, Minh Đức.đã nghiên cứu nhiều vấn đề của giới tính và GDGT. Nhiều công trình nghiên cứu về giới tính, tình dục và hôn nhân 9 gia đình được tiến hành từ năm 1985 đến nay, bước đầu làm cơ sở cho việc GDGT cho thanh niên và HS. Kết quả nghiên cứu của tác giả Hoàng Thị Diệu Thương (2017) với đề tài “GD giới tính cho trẻ em ở lứa tuổi 6 – 10 trong các gia đình tại thành phố Vinh – tỉnh Nghệ An (Nghiên cứu tại trường hợp phường Hà Huy Tập). Cho thấy thực trạng GDGT cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình GDGT cho con cái trong các gia đình tại TP.
Vinh, Nghệ An. Cuốn sách dành cho GV và sinh viên ngành GD tiểu học “GDGT cho HSTH” của tác giả Nguyễn Minh Giang được ra đời vào năm 2020 và được ấn hành bởi Nhà xuất bản Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh. Cuốn sách đã trình bày cơ sở khoa học của GDGT ở tiểu học như mục tiêu, nội dung, cách thức thực hiện, phương pháp và phương tiện GDGT. đăng Tạp chí khoa học, Tập 50 - Số 3B/2021, tr.
Bài viết công bố nhiều nghiên cứu về khung năng lực - tiêu chí đánh giá năng lực của GV tiểu học và Trung học cơ sở về GDGT, đồng thời là cơ sở giúp GV và CBQL nhận thức được nhìu yêu cầu cụ thể về hoạt động GDGT cho HS. Trên thực tế ở Việt Nam, rất nhiều trường từ cấp mầm non đến tiểu học đã đưa chủ đề GDGT vào chương trình giảng dạy, song GDGT cũng còn rất hạn chế, còn mang nặng tính hình thức và thành tích. Cần thiết phải GDGT cho trẻ ngay từ cấp tiểu học vì các em bây giờ phát triển rất sớm do môi trường và chế độ ăn uống. Bên cạnh đó, phải đưa cả kiến thức về giới LGBT vào giảng dạy ở các cấp học cao hơn.
Mục đích là để trẻ có nhận thức chính xác về LGBT, hiểu rõ chính mình, không bị lôi kéo bởi những thành phần xấu; bản thân trẻ LGBT cũng sẽ được tôn trọng, được công nhận là bình thường trong xã hội, không bị bạn bè và những người xung quanh dè bỉu, khinh miệt. (Khánh Thu, 2022) Như vậy, điểm qua các nghiên cứu về GDGT ở nước ngoài và trong nước cho thấy, GDGT đã thu hút sự quan tâm của các nhà khoa hoc, các nhà nghiên cứu và được đề cập nhiều khía cạnh khác nhau của GDGT như: quan niệm về tình bạn, tình cảm khác giới, nhận thức về giới tính và bình đẳng giới,.Tuy nhiên, theo nghiên cứu của 10 tác giả luận văn chưa có nghiên cứu nào về quản lý hoạt động GDGT cho HSTH tại các trường tiểu học thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh. Một số khái niệm liên quan đến đề tài nghiên cứu 1. Khái niệm hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh tại trường tiểu học 1.
Khái niệm giáo dục hoạt động giáo dục Theo Từ điển Bách khoa, GD là hình thức học tập theo đó kiến thức, kỹ năng, được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua giảng dạy, đào tạo, hay nghiên cứu. (Dewey, John, 1966) Theo Từ điển Tiếng Việt, GD chính là quá trình đào tạo con người một cách có mục đích, nhằm chuẩn bị cho con người tham gia đời sống xã hội, tham gia lao động sản xuất. (Hội đồng quốc gia, 2002) GD (theo nghĩa rộng): GD chính là quá trình tổ chức có mục đích, có kế hoạch thông qua các hoạt động và các quan hệ giữa chủ thể GD và người được GD nhằm tăng sức mạnh vật chất và tinh thần của người học nhằm truyền đạt và chiếm lĩnh những tri thức, kinh nghiệm của xã hội loài người. (Hà Thị Mai, 2013) GD (theo nghĩa hẹp): GD là quá trình hình thành niềm tin, lí tưởng, tình cảm, thái độ, cho người học.
(Hà Thị Mai, 2013) Tại Việt Nam, khi được phỏng vấn Giáo sư Hồ Ngọc Đại đưa ra nhận định về GD như sau: GD chính là một quá trình mà kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm của một người hay một nhóm người này được truyền tải một cách tự nhiên không áp đặt sang một người hay một nhóm người khác thông qua hoạt động giảng dạy, đào tạo hay nghiên cứu. Từ các khái niệm GD và hoạt động như đã trình bày ở trên, hoạt động GD được hiểu là quá trình tiến hành những công việc có mối quan hệ chặt chẽ với nhau nhằm hình thành phẩm chất và năng lực cho người học. Hoạt động GD được thực hiện thông qua nhiều hình thức. Hoạt động GD là một quá trình đòi hỏi người học phải không ngừng lĩnh hội từ nhiều khía cạnh.
Và GD luôn hướng đến mục tiêu cao đẹp, đóng góp cho xã hội và đáp ứng được nhu cầu tiếp nhận thông tin của người học. Khái niệm giới tính, hoạt động giáo dục giới tính Theo từ điển Tiếng Việt, giới tính được xem là đặc điểm sinh học tạo nên sự khác biệt giữa nam giới và nữ giới. (Hội đồng quốc gia, 2002) 11 Khái niệm về giới tính cần được hiểu một cách đầy đủ, toàn diện về nhiều mặt sinh lí và tâm lí, cá nhân và xã hội, hôn nhân và gia đình, tình yêu và tình bạn, sự giao tiếp nam nữ… (Đỗ Hà Thế Bình, 2007) Như vậy, giới tính gồm những đặc điểm sinh học tạo nên sự khác biệt giữa nam giới và nữ giới. Giới tính được xem như món quà tự nhiên giúp phân biệt giữa hai giống mang những đặc điểm riêng biệt của nam và nữ.
Sự khác biệt không chỉ về bên ngoài mà còn mang yếu tố bên trong như tâm lý, sinh học, tình cảm,. GDGT được xem như một lĩnh vực rất phức tạp, vì thế có nhiều quan niệm khác nhau về vấn đề này. Kolexev, cho biết GDGT chính là quá trình tìm ra những nét, những phẩm chất, những đặc trưng và khuynh hướng phát triển của từng nhân cách của con người đối với người khác (A.