Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Sơ lược lịch sử GDGT 1.1 Sơ lược lịch sử GDGT trên thế giới Vấn để giới tính và GDGT đã được xem xét từ lâu. Vào thời kì tiễn khoa học người ta xem xét giới tính và GDGT theo quan điểm tồn giáo và đạo đức thời đó. Vào thời kì này, việc GDGT cho trẻ em ít nhiễu được chính thức hóa, người ta đã chú ý dạy đỗ các em gái theo mô hình giống bà và mẹ, còn dạy dỗ các em trai theo mô hình của ông và bố.
Ở một số nước phương Đông như Trung Quốc, Nhật Bản. người ta dạy em gái khi ngủ không được đạng hai chân, con gái phải phục tùng bố mẹ, vợ phải phục tùng chẳng, phụ nữ góa bụa phải phục tùng con trưởng, trong quan hệ nam nữ phải tuân thủ nghiêm ngặt lời dạy "nam nữ thụ thụ hất thin”. Ở một số nước phương Tây, người ta chú ý giáo dục cho trẻ khi ngồi không được đưa đẩy chân, không đá chân dưới gầm ban, người lớn hoàn toàn không nói đến cuộc sống tình dục với trẻ em. Ở thế ki XIX, tính xác thịt và tình dục bị cấm ki một cách gay gat.
Đến đầu thế ki XX, nhu cầu GDGT bắt đầu đuợc chú ý và để cao. Việc nghiên cứu giới tính lúc nay mới được tiến hành một cách nghiêm túc và khoa học. Có thể kể đến một số công trình nổi tiếng như: "Những rối loạn tình dục” được coi là cuốn sách nghiên cứu về giới tính đầu tiên của nhà tâm lí học người Áo Kraphta Ebingơ, xuất bản 1886; “Ba bài thảo luận vẻ fi thuyết tình dục” của nhà tâm lí học người Áo gốc Tiệp Sigmund Freud, xuất bản 1905, “Ứng xử tình dục của đàn ông” của Alfred Kingsey xuất bản 1948. Việc nghiên cứu các vấn để giới tính ngày càng trở nên khẩn trương và có ý nghĩa xã hội quan trọng.
Nó là vấn để sức khỏe của mỗi cá nhân đồng thời là vấn để cẩn quan tâm chung của xã hội. Nhờ nắm bắt được các quy luật phát triển sinh lí giới tính của con người, ngành nghiên cứu này đã đưa ra những chương trình GDGT cho các lứa tuổi một cách khoa học. Năm 1933, Thuy Điển thành lập “Hội GDGT” với mục đích thông tin, phổ biến kiến thức về giới tính nói chung và tình dục nói riêng; sdn xuất, bán thuốc và các dụng cụ tránh thai. Năm 1942, Bộ giáo dục Thụy Điển quyết định đưa thí điểm giáo dục tình dục vào nhà trường, đến 1956, dạy phổ cập trong tất cả các loại trường từ tiểu học đến trung học.
Sau Thụy Điển, các nước Đông Âu, Tây Âu, Bắc Âu cũng đưa GDGT vào nhà trường. Chương trình GDGT ở các nước này rất đa dang, các trường có thể tự chọn nội dung phù hợp với đối tượng để giảng đạy. Sau Châu Âu nhiều nước Châu Mi La Tinh, vùng Caribê cũng quan tâm đến GDGT. Trong khi đó ở nhiều nước Châu A, GDGT vẫn còn là lĩnh vực “cấm ki” xuất phát từ những quan niệm phong kiến và tôn giáo.
Nhân thức được hậu quả của việc gia tăng dân số thế giới một cách nhanh chóng. Năm 1968, Đại hội déng Liên hiệp quốc bất đầu có những hoạt động về giáo duc dân số trong từng khu vực, ngành khoa học về giáo dục dân số ra đời và phát triển, làm nảy sinh nhu cầu về GDGT trong giáo dục dân số. Vài thập niên gắn đây, hằng năm trên thế giới luôn tổ chức các Hội nghị quốc tế về các vấn dé giới tính và GDGT. Riêng khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, mặc dù bị hạn chế bởi những quan niệm truyền thống, song đến nay cũng đã có nhiều nước tiến hành GDGT cho học sinh.
Trung Quốc: Công tác GDGT đã trải qua các giai đoạn: khởi xướng, tiến hành, phát triển và củng cố. Từ 1988 đến nay, chương trình GDGT được áp dụng đồng bộ trên toàn lãnh thổ, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Ban giáo dục quốc gia. Ấn Đô: Thành lập hẳn một cơ quan nhà nước chuyên trách vẻ GDGT. Cơ quan này để ra đường lối, chủ trương chung để mỗi bang tự triển khai chương trình theo yêu cau tình hình cu thể ở từng địa phương.
Nhật Bản: Ngay từ năm 1970, Nhật Bản đã tiến hành GDGT với tên gọi "Chương trình giới tính học loài người ”. Năm 1972, Hội GDGT Nhật Bản chính thức hoạt động với chức năng in ấn, xuất bản sách báo, tài liệu hướng dẫn để hỗ ưrợ giáo viên. học sinh ở mọi trình độ từ trung học đến cao đẳng. Hiện nay, Nhật Ban dang tập trung thảo luận một số để tài như: cải tiến chương trình GDGT, tim hiểu ảnh hưởng tác động lên GDGT, GDGT và vai trò của nhân viên y tế nhà trường.
Năm 1986, một cuộc Hội thảo về Giáo dục dân số do co quan Văn hóa — gido dục Liên hợp quốc (UNESCO) tổ chức ở Bangkok, Thái Lan có nêu hai vấn để cẩn được quan tam đặc biệt ở khu vực Châu A — Thái Binh Dương, đó là “đời sống gia đình và GDGT”. Tóm lại: mặc dù trên thế giới việc triển khai GDGT ở các nước diễn ra không đẳng đều nhưng nhìn chung đến nay, phan lớn các nước trên thế giới đều ý thức được tam quan trọng của nó đối với thế hệ trẻ và đã triển khai ở nhiều mức độ khác nhau. Nhiều nước khi đưa môn học này vào nhà trường với những tên gọi khác nhau, song mục tiêu cuối cùng của mỗn học thì vẫn giống nhau: đó là xây dựng nhân cách và mốt quan hệ lành mạnh, có trách nhiệm giữa nam và nữ. Sơ lược lịch sử GDGT ở Việt Nam Ở Việt Nam, chỉ khoảng một thập kỉ trước đây, vấn để GDGT cho lứa tuổi vị thành niên vẫn còn bi bao phủ bởi phong tục tập quán lâu đời và bị coi là điểu "cấm ki", Rất nhiễu người cảm thấy "xấu hổ", khó khăn khi nói về tình dục, giới tinh.
Các thấy cô giáo, tổ chức Đoàn thanh niên và các tổ chức xã hội gan như chưa được trang bị kiến thức day đủ để có thể tham gia giáo dục hay tư vấn về các vấn để giới tính cho học sinh, Bên cạnh đó, vẫn còn nhiều quan niệm chính thống cho rằng làm như vậy chính là “vẽ đường cho hươu chạy”, là nhi nhét vào dau óc trẻ thd những diéu không tốt. Song những quan niệm bảo thủ trên chỉ mang lại những kết quả hoàn toàn trái ngược, học sinh bị cách li với 10) những kiến thức vẻ giới tính, phải đối mặt vơi những nguy cơ, rủi ru trong quan hệ tĩnh dục không an toàn, về sự mang thai ngoài ý muốn. Tuy nhiên, trong hon mười năm gan đây việc GDGT đã được chú ý đẩy mạnh theo tinh than Chỉ thị |76a ngày 24 thang 12 năm 1984 của Chủ tịch Hội đẳng Bộ trưởng vẻ việc ". xây dựng chương trình chính khóa và ngoại khóa nhằm bối dưỡng cho hoe sinh những kiến thức về giới tính, về hôn nhân gia đình và nuôi day con cái ”, Năm 1985, Bộ đại học và Trung học chuyên nghiệp phối hợp với Công đoàn ngành đại học tổ chức hội thảo về GDGT cho sinh viên các trường đại học; tổ chức tập huấn cho một số cán bộ đoàn, cán bộ tuyên huấn.
các trường đại học và trung học chuyên nghiệp phía nam về GDGT, về những kiến thức tình yêu, hôn nhân và gia đình, chuẩn bị hành trang cho họ làm công tác GDGT. Tuy nhiên, công tác GDGT ở các trường đại học chỉ mới dừng lại trang một số budi sinh hoạt câu lạc bộ thanh niên, sinh viên mà thôi, Diéu kiện kinh phí chưa cho phép triển khai nghiên cứu để xây dựng chương trình GDGT một cách có hệ thống, khoa hoc như moi người mong muốn. Cũng trong năm 1985, Trung ương hội liên hiệp phụ nữ đã triển khai phong trào “ba triệu bà mẹ nudi con khỏe, dạy con ngoan”, trong đó có nội dung GDGT ở lứa tuổi dây thì, nhưng hiệu quả của phong trào mang lại cũng chưa cao. Năm 1986, trong khuôn khổ chương trình “Giáo dục dân số” do UNESCO tài trợ, tại Phân viện khoa hoc giáo dục Thành phố Hỗ Chi Minh đã tổ chức một hội thảo khoa về "Đời sống gia đình và GDGT", Hội thảo để cập đến hàng loạt vấn để nhằm nhanh chóng triển khai một chương trình giáo dục đời sống gia đình và GDGT cho thiếu niên, thanh niên và đông đảo quan chúng, nâng cao chất lượng đời sống gia đình.
II Từ năm 1988 đến 1991, có các dự án thử nghiệm VIE/S8/P10 (giáo dục dan số ở các trường phổ thông và sư phạm) VIE/88/P09 (giáo dục đời sống gia đình và GDGT), rồi đến VIE/94/P0I nâng cao và hoàn chỉnh chương trình nói trên. Chương trình thử nghiệm của dự án tập trung chủ yếu vào hai chủ điểm: - Các chủ điểm về Tâm lí - giáo dục bao gém: gia đình, các mối quan hệ gia đình và cách ứng xử, trách nhiệm làm cha mẹ, bén phận làm con, tinh ban, tình yêu, hôn nhãn và sự lựa chọn ban đời. - Các chủ điểm về Sinh hoc bao gồm: giới tính và sự khác biệt nam nữ, cấu tao và chức năng cd quan sinh dục nam nữ, hiện tượng kinh nguyệt, thụ thai và sự nhát triển của thai, cơ sở khoa học của các biện pháp tránh thai, các bệnh lây lan qua đường tình dục, hậu quả có thai tuổi vị thành niên, Như vậy, giáo dục đời sống gia đình và GDGT là cách tiếp cận vi ma để giải quyết vấn để dân số của nước ta. Nó tác động vào khía cạnh cá nhân, hướng vào thanh niên trước hôn nhân để giải quyết tận gốc vấn để tăng dân số ở nước ta, Chương trình thử nghiệm về giáo dục đời sống gia đình và GDGT đã được đại đa số học sinh, giáo viên và cha mẹ học sinh chấp nhận.
Thế nhưng, hiện nay GDGT ở nước vẫn chưa trở thành một môn học chính thức. thâm chí ngoại khóa ở nhà trường. Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề Trong những năm gan đây, công tác GDGT đang được sự quan tâm của toàn xã hội. Do đó, khi để cập đến vấn để này có rất nhiều công trình nghiên cứu khác nhau.
Trong đó, nổi lên một số công trình nghiên cứu GDGT cho lứa tuổi học sinh THPT. Có thể kể đến mỗi vài công trình sau: 12 - Năm 1991, để tài nghiên cứu: "Những yếu tổ tâm lí trong sự chấp nhận GDGT của thanh niễn học sinh” của GS. TS Bùi Ngọc Oánh. - Năm 1994, để tài nghiên cứu: “Thực trạng nhận thức và thái độ của học sinh THPT đối với một số nội dung GDGT”" của Huỳnh Văn Sơn.