chương Il va chương III ~ Từ 20/04/2015 đến 25/04/2015; Hoan thành kiện nghị va để xuất giải pháp - Tir 26/04/2015 đến 30/04/2015: Hoan chính nội dung và hình thức khóa luận. Tháng 5 năm 2015 Tử 01/05/2015 đến 05/05/2015: GVHD duyệt lan cuỗi. — Từ 05/05/2015 đến 09/05/2015: Hoàn chính khỏa luận, chính sửa theo yêu cầu của GVHD. ~ Ngảy 10/05/2015: In an — Tir 11/05/2015: Xin chữ ki của GVHD va nộp vẻ khoa.
Từ 11/05/2015 đến 17/05/2015: Phẻ duyệt đẳng ¥ của khoa — Ngày 18/05/2015: Bao vệ để tải, PHAN NOI DUNG CHUONG 1: CƠ SỞ Li LUAN 1. LỊCH SU NGHIÊN CUU VAN DE 1. Sơ lược về lịch sử nghiên cứu van đề trên thể giới Cháo dục giới tinh, nội dung gido dục giới tính đã được nghiên cứu ở nhiêu nước trên thể giới từ lâu. Từ thể kỉ XX có những công trình nghiên cửu vẫn để nảy như: V.
Tuy nhiên nội dung giáo dục giới tỉnh được dé cập nhiều nhất là vẫn đẻ tinh dục va it được xã hội chap nhận, Nam 1921 Thụy Điển đã nghiên cửu van đẻ giao dục giới tinh và tử đó xem tinh dục là quyền tự do của con người, là quyên bình ding nam nữ, la trách nhiệm dao đức của công dan đối với xã hội. [ I | Từ những năm 30 của thể ki XX, giáo dục giới tỉnh được nghiên cứu toàn điện hon cả vẻ nội dung, phương pháp và việc 16 chức thực hiện.A Sukhomlinxki đưa ra nhiều quan điểm khoa học vẻ đời song giới tinh, khang định vai tro can thiết va quan trong của giáo dục giới tinh dong thời đưa ra những nguyên tic, nội dung, phương hướng giáo dục giới tính cho học sinh. Trong bai giảng về giới tính A.X Makarenko cho rang: “Ching ta phải giáo dục con em chúng ta làm sao dé các em có thai độ đổi với tỉnh yêu như đổi với một tinh cảm nghiêm túc va sau nặng, để các em sẽ được hướng khoái cảm của minh, tinh yêu của mình. hạnh phue của minh trong khuôn khổ gia định.
[2] Lin đầu tiên. Bộ Giáo dục Thuy Điển quyết định thi điểm đưa giáo dục tinh dục vào nhà trường va đến năm 1956 thi day phé cập cho tất cả các hae hye từ tiểu học đến trung học. Sau Thụy Điển la các nước Đông Âu như: Đức, Ba Lan, Hungari, Tiệp Khắc. và các nước Tây Âu.
Bắc Au khác. Hau hết các nước nay đều coi giảo dục tinh dục là một van dé lành mạnh. đem lại tự do cho con người, vi the họ quan niệm: can nói rũ cho moi người hiểu biết vẻ những quà luật hoạt động tinh dục. Chương trình giáo dục giới tính của họ rất da dạng, các trường có thé tự chọn van đẻ nhu hựp với doi tượng để tự học va giảng day, Nha nước tan dung các nhương tiện truyen thông dé tiến hành giáo dục giới tỉnh.
Sau đó nhiều nước châu Mi. vùng Caribe cùng quan dam đến wide đục tink dục, Diên năm 1960, GDGT mới được khang định. được nghién cứu rộng rãi va hoan chink dan, GDGT được nghiên cứu sau vẻ mục dich, nội dung, phương phap,. với các nhà khoa học noi tiếng như LX Côn, V.
Nội dung GDGT không chỉ là van dé tinh dục ma con là các van để của gia đình, giới tính, tỉnh yêu,. Tắt cả bat đầu được quan tâm nhiều hơn. Năm 1968, Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc bắt dau có những hoạt động vẻ áo dục dan số và di liên với hoạt động ay, GDGT lại được quan tam hơn nữa với áo dục dân số trong việc triển khai các nội dung ay đến với các học sinh các cấp. Từ những năm 1970, 1980 việc GDGT có nên đưa vào trưởng học bat đầu được quan tâm thực sự va từ đỏ bản khuynh hưởng về GDGT xuất hiện: —_ Bắt buộc thực hiện trong tat cả các trường pho thông như: Dan Mach, Thụy Điển, Đức, Tiệp Khắc.
— Hoan nghénh va bước dau công nhận hợp pháp hoa như Ba Lan, Thụy Si, Pháp. - Tan thành nhưng không hợp thức hoa vẻ luật pháp như Anh, Ha Lan. ~ Không ngăn cam, cũng như không phát triển như Hy Lap, Tho Nhĩ Ki,. Nhu vậy, GDGT bat dau được mot số nước đưa vào trưng hoc, tuy nhien.
việc thực hiện nột dung GDGT vẫn hoàn toàn khác nhau ở mỗi nước va mỗi khu vỰc. Riếng ở Chau A, GDGT cũng được thừa nhận lả can thiết và cũng đã được thực hiện những nội dung GDGT trong trường học ở các quốc gia như Nhật Hản, Trung Quốc, Thai Lan, Dai Loan, Singapore, Philippines,. Riếng ử Philippines, GDGT đã được đưa vào chương trình nội khỏa của trường pho thông cơ sơ va trưởng trung how nhỏ thông qua các giờ chính khỏa, các hoạt dong ngoại khoa theo mức đủ khác nhau ứ các lửa tuôi khác nhau. Hoại động GDGT được nghiên cứu các hình thức tỏ chức dạy học, những phương phảp và những phương tiện day hoe về giới tỉnh rất được quan tim, cuốn hút học sinh va đạt hiệu qua cao, O Nhật Ban, ngay sau khi chiến tranh thể giới thir I kết thúc, Nhật Ban đã tiên hành GDGT.
gọi lả giáo dục sự trong sạch (Purity education), nhằm phố biển những cung cách, pham chat, hành vi lành mạnh va chính thong cho giới trẻ. Sau do, với sự thay đôi nhanh chóng ve mặt kinh tẻ, quan niệm trên đã thay đổi, trở thành Giáo dục giới tính, với chương trình giới tinh học loài người tiến hành từ năm 1970 10 Ở Pai Loan vào tháng 3/1989, khi trung tam cuộc sống gia đỉnh va gido dục giới tinh được thành lap Tiển sĩ Hen Wen Yen, nguyên chủ tịch Liên Doan Giới Tinh Học Châu A, đã được bỏ nhiệm vào cương vị phụ trách Trung tam. Dưới sự chi đạo của Bộ Giáo dục, Hội GDGT cũng với trung tâm của tiến sĩ Han Wen Yen thường xuyên xuất bản định kỷ hang thang ban tin về GDGT dé cập nhật hóa các giáo trình dang ap dụng cho học sinh phố thông trung học. Đồng thời các hội thảo chuyên đẻ vẻ cuộc sông gia đình, GDGT tại các trường trung học thuộc thành pho Dai Bắc va việc giảng dạy vẻ vệ sinh kinh nguyệt cho nữ sinh cấp II ở Đài Loan dược thực hiện và đem lại lợi ich khả thiết thực.
Nam 1984, 1986, các Hội nghị UNESCO đã lam sang tỏ những yêu cảu vẻ gido dục đời sống gia đình, GDGT trong quả trình giao dục ở các nước khu vực Chau A - Thai Hình Dương vẻ nội dung, nhương pháp trên những khia cạnh khác nhau như: Văn hỏa, phong tục tập quản, định hưởng giá trị vẻ tỉnh dục. tat ca đều thủng nhất ở chỗ là sự can thiết phải GDGT cho thé hệ trẻ. Ngày nay, GDGT ở các quốc gia trên thể giới phát triển rất nhiều như ở Chau Au, thang 2 năm 2000 chính phủ Phản quyết định đưa kiến thức giới tính lên dai truyền hình. Tại Đức, giáo dục giới tỉnh không những được đưa vào trường học ma còn sử dụng ca hệ thong truyền thông để giảo duc.
Vào năm 1921, tại Mỹ một ủy ban liên ngành được thành lập để nghiên cứu các vấn đẻ tinh dục, Ủy ban này hỗ trợ cho H. Kingsey cùng các cộng sựcủa ông nghiền cứu một cách khả toan điện va khoa học trên quy mo rộng về các định hướng tâm lí tính dục va hành vị của con người, Tiếp noi công trình của H, Kingsey là công trình của W. Johnson năm 1954 đã tap trung phat hiện các chuẩn mực trong tinh dục, đã cung cap những tham số sinh li dang tin cậy vẻ đời song tinh dục của con người. Nhìn chung, hau hết các nước trên thé giới đều nhận thức được tam quan trong của GDGT, mặc di tỏ chức hoạt động có khác nhau, nhưng đêu hưởng đến phat triển nhãn cách, xây dựng mỗi quan hệ lành mạnh va trách nhiệm giữa hai gin, 1.
Sơ lược lich sử nghiên cửu van dé ở Việt Nam Ở Việt Nam, nhiều thập ki trước day van dé GDGT vẫn côn bị hạn chẻ bởi nhong tục tập quản va được xem như là dieu “cam ki”, do dé người ta cảm thay khó nói ve van đẻ tinh đục, giới tính. giao dục giới tỉnh, nên việc nghiên cửu giảo dục giới tính hau như bi “nẻ tránh” va chưa được pho biến Vào thận niên 90 của thể ki XX, hoa nhập vào chương trình của quỹ dẫn SỐ Liên Hiện Quốc (LINEPA] về van để hùng né din số, Dang va nha nước ta xem chiến lược dan số. giao dục dẫn số la công tác thuộc chiến lược con người vả GDGT là một chương trình khả quan trọng trong bốn điểm của chủ trương thực hiện khuyến nghị của Hội Tư van khu vực về giáo dục đản số năm 1986 ở Bangkok: — tiiáo dục dời sông gia đình ~ Ciao dục giới tinh - Gite dục tuổi wid Cháo dục đỏ thị hóa. Chỉnh lúc nảy, nội dung GDGT được để cập vả pho biến dưới nhiều hình thức khác nhau ứ những năm 80 của thé ki nay 20nhu bao cáo khoa học, chuyên đề, no sinh hoại ở các câu lạc bộ mà trang những người tham gia kha đồng các em hoc xinh, Dù răng chưa chỉnh thức va sảu sắc nhưng vẫn dé GDGT nói chung, nội dung GDGT cho hoe sinh nói riêng bat dau lá điểm néng của các ngành khoa học, nhiều nha khoa học.
Đặc biệt hon, vào ngày 24 thang 12 năm 1984 Chủ tịch Hội dong Bộ Trưởng Pham Văn Đồng ki chỉ thi 176A, trong đó nêu rõ: “BO Giáo dục, Bộ Đại hoe va Trung học chuyên nghiệp. Tang cục Dạy nghệ nhỏi hop với các tỏ chức có liên quan xảy dựng chương trình chính khỏa và ngoại khóa nhằm boi đường cho học sinh những kien thức khoa học vẻ giới tinh, vẻ hôn nhân va gia đình, vẻ nuối day con cải”. Bộ Ciao duc đã đưa ra chỉ thị về việc GDGT trang toán bộ hệ thông trường học vác cấp va các ngành học của cả nước với khỏi lượng nội dung vả chương trinh tương đương. Đến năm (985, các công trình nghiên cứu về giới tinh, nội dung GDGT, tinh yéu, hon nhãn gia định jan lượt được thừa nhận.
Nhiều nhà khoa học như Trần Trọng Thuy, Đặng Xuân Hoài. Đức Uy, Phạm Hoang Gia, Pham Ngọc, Minh Đức. đã nghiên cửu nhiều van đề, nhiều khía cạnh chỉ tiết của giới tỉnh và GDGT. Nhiều công trình nghiên cửu bước dau làm cơ sở cho việc GDGT cho thanh thiểu niên vả học sinh, Những công trình nay nêu lên rất nhiều van dé phong phú da dạng về van đề giới tính va giáo dục giới tính ở Việt Nam.