phần mở đầu, kết luận, mục lục và tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn đƣợc cấu trúc trong 3 chƣơng: Chƣơng I: Cơ sở lý luận của quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS trung học phổ thông Chƣơng II: Thực trạng công tác quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS ở trường THPT Tự Lập – Mê Linh – Hà Nội. Chƣơng III: Các biện pháp nâng cao chất lượng quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS ở trường THPT Tự Lập – Mê Linh – Hà Nội trong giai đoạn hiện nay. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1.
Các nghiên cứu nước ngoài Theo nhà triết học Socrat (470-399-TCN) đã cho rằng đạo đức và sự hiểu biết quy định lẫn nhau. Có đƣợc đạo đức là nhờ ở sự hiểu biết, do vậy chỉ sau khi có hiểu biết mới trở thành có đạo đức. Aristoste (384-322-TCN) cho rằng không phải hy vọng vào Thƣợng đế áp đặt để có ngƣời công dân hoàn thiện về đạo đức, mà việc phát hiện nhu cầu trên trái đất mới tạo nên đƣợc con ngƣời hoàn thiện trong quan hệ đạo đức. Rabơlen (1494- 1553) là một trong những đại biểu xuất sắc của chủ nghĩa nhân đạo Pháp và tƣ tƣởng giáo dục thời kỳ phục hƣng.
Ông đòi hỏi giáo dục phải bao hàm nội dung “Trí dục, Đức dục, Thể dục và Mỹ dục” và đã có sáng kiến tổ chức các hình thức giáo dục nhƣ việc học ở lớp và ở nhà, ngoài ra còn có các buổi tham quan ở xƣởng thợ, các cửa hàng, tiếp với các nhà văn, các nghệ sỹ, đặc biệt là mỗi tháng một lần thầy, cô và trò về sống ở nông thôn một ngày. Ở phƣơng Đông từ thời cổ đại, Khổng Tử (551-479-TCN ) trong các tác phẩm: “Dịch, Thi, Thƣ, Lễ, Nhạc Xuân Thu” rất xem trọng việc GDĐĐ.Các nghiên cứu trong nước Nhƣ Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Có tài mà không có đức thì là ngƣời vô dụng”. Ngƣời coi trọng mục tiêu, nội dung GDĐĐ trong các nhà trƣờng nhƣ: “Đoàn kết tốt”, “Kỷ luật tốt”, “Khiêm tốn, thật thà dũng cảm”, “Con ngƣời cần có bốn đức: Cần - Kiệm - Liêm - Chính, mà nếu thiếu một đức thì không thành ngƣời”. Rất nhiều tác giả ở nƣớc ta đã nghiên cứu về vấn đề này nhƣ: Phạm Minh Hạc, Hà Thế Ngữ, Nguyễn Đức Minh, Phạm Khắc Chƣơng, Trần Văn Chƣơng, Phạm Hoàng Gia, Phạm Tất Dong, Võ Huỳnh Ngọc Vân, Phạm Trung Thanh và nhiều tác giả khác.
14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong tài liều bồi dƣỡng thƣờng xuyên chu kỳ 1997 – 2000 cho GV THPT: “Đạo đức học” các tác giả Phạm Khắc Chƣơng và Trần Văn Chƣơng đã phân tích quá trình phát triển tâm sinh lý của HS THPT, về tình bạn, tình yêu, khẳng định đại đa số HS hiếu học, ngoan ngoãn, thông minh và chỉ có một bộ phận HS hƣ mà ngƣời có lỗi lại chính là ngƣời lớn chúng ta. Trong chƣơng VI đề cập một số vấn đề quan tâm trong giảng dạy và GDĐĐ HS, trong đó các tác giả xây dựng chuẩn mực về đạo đức mới trong gia đình, trong học tập, trong tình bạn, tình yêu và trong giao tiếp. Trong chƣơng VII đề cập đến việc học tập, tu dƣỡng đạo đức theo gƣơng cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đặc biệt trong chƣơng VIII các tác giả đề xuất một số phƣơng pháp giảng dạy và GDĐĐ cho HS trong nhà trƣờng THPT bằng một số nhóm phƣơng pháp cụ thể và bằng hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cũng nhƣ mối quan hệ giữa các phƣơng pháp đó.
Theo tác giả Thái Duy Tuyên trong công trình nghiên cứu của mình: “Những vấn đề cơ bản của giáo dục hiện đại” [28] trong phần đánh giá về thực trạng đã tỏ ra rất lo lắng trƣớc sự sa sút về đạo đức ngày càng gia tăng cả về số lƣợng lẫn chất lƣợng và mức độ nguy hại của một bộ phận HS. Tác giả kết luận ĐĐHS đang trên đà giảm sút và cho rằng GDĐĐ là nhiệm vụ quan trọng của toàn xã hội đông thời cũng kiến nghị cần đẩy mạnh hơn nữa công tác nghiên cứu về GDĐĐ. Trong tác phẩm: “Về phát triển toàn diện con người thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá” [14] của một nhóm tác giả do GS.VS Phạm Minh Hạc làm chủ biên, trong chƣơng VII nói về định hƣớng chiến lƣợc xây dựng đạo đức con ngƣời Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá cũng đã đánh giá thực trạng ĐĐHS, sinh viên hiện nay có một khoảng cách khá xa mới tiếp cận đƣợc với mục tiêu giáo dục giá trị đạo đức so với yêu cầu của thời kỳ mới. Trong cuốn: “ Văn hoá với thanh niên – Thanh niên với văn hoá” [3] do Ban tƣ tƣởng – Văn hoá Trung ƣơng biên soạn tập hợp các bài viết của nhiều tác giả, trong đó tác giả Hà Nhật Thăng trong bài viết của mình đã nêu lên thực trạng đạo đức, tƣ tƣởng chính trị, lối sống của thanh niên, HS, sinh viên hiện nay 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com và đi đến nhận định: Trong HS, sinh viên có sự phân hoá khá rõ rệt, tỷ lệ giữa các nhóm có đạo đức tốt, chậm tiến, bình thƣờng có sự chênh lệch khá lớn.
Tuy nhiên các giá trị đạo đức, tƣ tƣởng chính trị, lối sống đƣợc đa số HS, sinh viên quan tâm vẫn là các giá trị đạo đức cốt lõi của nhân cách con ngƣời Việt Nam; cũng có những giá trị mới do yêu cầu của CNH, HĐH chƣa đƣợc HS, sinh viên coi trọng. Tóm lại, những giá trị truyền thống của dân tộc vẫn đƣợc số đông HS, sinh viên coi trọng tuy vẫn chƣa thể hiện qua hành vi hoạt động. Một bộ phận không nhỏ HS, sinh viên có sự giao động về nhận thức có hành vi sai trái liên quan tới một số giá trị quan trọng nhƣ: Trung thực, thẳng thắn, tinh thần trách nhiệm, lòng nhân ái. Tác giả nêu 4 nguyên nhân, có thể khái quát lên là công tác GDĐĐ còn chƣa đƣợc coi trọng đúng mức, chƣa đồng bộ.
Qúa trình giáo dục còn nặng về kết quả học tập văn hoá, coi nhẹ việc rèn luyện đạo đức, hình thức giáo dục còn khô cứng, áp đặt, không phù hợp tâm lý lứa tuổi. Từ thực trạng và nguyên nhân trên, tác giả đề xuất 8 giải pháp khắc phục nhằm nâng cao chất lƣợng GDĐĐ cho HS, sinh viên. Công trình nghiên cứu về công tác GDĐĐ cho HS, các tác giả Lê Trung Trấn – Nguyễn Dục Quang đề nghị phải đổi mới hoạt động GDĐĐ theo nguyên tắc phù hợp với sự phát triển mới và yêu cầu của xã hội, giáo dục có hệ thống, tiếp cận phức hợp và xuất phát từ HS. Điểm lại các công trình nghiên cứu trên đây, mặc dù có những quan điểm chƣa thống nhất nhƣng tựu chung các tác giả đều khẳng định: Đa số HS, sinh viên có phẩm chất đạo đức và lối sống tốt, ham hiểu biết, ham học hỏi, tôn trọng đạo lý, vẫn giữ gìn đƣợc bản sắc và truyền thống văn hoá của dân tộc, mặc dù nhận thức và hành động một bộ phận HS chƣa đạt những chuẩn mực đạo đức hiện nay.
Đặc biệt đáng lo ngại là một bộ phận thanh niên, HS sa sút về phẩm chất đạo đức, chạy theo lối sống thực dụng, coi thƣờng luân thƣờng đạo lý, phai nhạt lý tƣởng XHCN, vi phạm pháp luật và sa vào các tệ nạn xã hội, có các hành vi lệch so với chuẩn mực đạo đức và truyền thống văn hoá của dân tộc…có chiều hƣớng phức tạp và ngày càng gia tăng. 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Các công trình nghiên cứu về GDĐĐ cho HS khá nhiều nhƣng chƣa cụ thể và không phù hợp với hoàn cảnh thực tế của từng nhà trƣờng ở các địa phƣơng có điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau. Hơn nữa trong bối cảnh hiện nay, khi chúng ta đang thực hiện công cuộc đổi mới, mở cửa hội nhập Quốc tế ngày càng rộng rãi trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội và sự tác động của hoàn cảnh kinh tế – xã hội lên đời sống tâm lý của mỗi con ngƣời, nhất là lớp trẻ ngày càng tăng, từ đó công tác GDĐĐ cho thanh, thiếu niên càng trở lên cấp thiết hơn bao giờ hết. Hiện nay khi chúng ta gia nhập tổ chức thƣơng mại thế giới WTO thì nhu cầu nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của CNH – HĐH đất nƣớc đặt ra vô cùng cần thiết, khi mà cạnh tranh quốc tế ngày càng trở lên quyết liệt.
Nguồn nhân lực hiện nay đòi hỏi vừa phải có trình độ Khoa học – Công nghệ và tay nghề cao, vừa phải có đạo đức trong sáng, kiên định lý tƣởng XHCN, yêu nƣớc, có lòng nhân đạo cao cả, ân nghĩa, biết yêu thƣơng con ngƣời… Tóm lại nguồn nhân lực mới phải phát triển toàn diện cả “Đức và Tài”, “Vừa hồng lại vừa chuyên”. Một điều khiến chúng ta trăn trở là: Tại sao trong những năm gần đây, bên cạnh những thành tựu chúng ta đạt đƣợc về mặt kinh tế thì tiêu cực và tệ nạn xã hội ngày càng diễn biến phức tạp, sự xuống cấp về mặt đạo đức của một bộ phận thanh niên HS ngày càng gia tăng? Nguyên nhân của tình trạng trên là ở đâu? Trách nhiệm của các nhà trƣờng, đặc biệt là các trƣờng THPT đến đâu nhằm hạn chế tình trạng trên và nâng cao chất lƣợng GDĐĐ HS, một lực lƣợng chiếm tỷ lệ cao trong xã hội, là chủ nhân tƣơng lai của đất nƣớc, góp phần đào tạo nguồn nhân lực phát triển toàn diện đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế – xã hội trong giai đoạn mới. Những phân tích trên, cho thấy, việc nghiên cứu đề tài là cấp thiết và thiết thực góp phần tháo gỡ những bất cập trong quá trình thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện cho HS THPT trong giai đoạn hiện nay. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến vấn đề nghiên cứu 1.
Khái niệm về quản lý, biện pháp quản lý. Quản lý 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm quản lý, tôi đƣa ra một vài khái niệm sau đây của một số nhà khoa học nghiên cứu chuyên sâu về khoa học quản lý. Frederick Winslow Taylor (1856-1915) là ngƣời sáng lập ra thuyết quản lý theo khoa học. Theo ông thì : “Quản lý là biết đƣợc chính xác điều bạn muốn ngƣời khác làm, và sau đó hiểu đƣợc rằng đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [14, tr.