Luận văn thạc sĩ quản lý hoạt động giáo dục bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc thiểu số cho học sinh ở các trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh bình phước

Luận văn thạc sĩ giáo dục phân tích quản lý hoạt động giáo dục bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc thiểu số cho học sinh ở các, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề

Chuyên ngành

Quản lý giáo dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2019

192
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về quản lý giáo dục bảo tồn văn hóa dân tộc thiểu số tại Bình Phước

Quản lý giáo dục bảo tồn văn hóa dân tộc thiểu số là một nhiệm vụ quan trọng trong việc duy trì và phát huy giá trị văn hóa của các dân tộc thiểu số tại tỉnh Bình Phước. Tỉnh này có nhiều dân tộc sinh sống, mỗi dân tộc đều có những giá trị văn hóa đặc sắc riêng. Việc quản lý giáo dục không chỉ giúp học sinh hiểu rõ về văn hóa của dân tộc mình mà còn tạo ra sự kết nối giữa các thế hệ.

1.1. Đặc điểm văn hóa dân tộc thiểu số tại Bình Phước

Bình Phước là nơi sinh sống của nhiều dân tộc thiểu số như S’tiêng, M’nông, và Hoa. Mỗi dân tộc đều có những phong tục tập quán, ngôn ngữ và nghệ thuật riêng biệt. Việc bảo tồn và phát huy những giá trị này là rất cần thiết để giữ gìn bản sắc văn hóa.

1.2. Vai trò của giáo dục trong bảo tồn văn hóa

Giáo dục đóng vai trò quan trọng trong việc truyền đạt và bảo tồn các giá trị văn hóa dân tộc. Thông qua các chương trình giáo dục, học sinh sẽ được tiếp cận với lịch sử, phong tục tập quán và nghệ thuật của dân tộc mình, từ đó nâng cao ý thức bảo tồn văn hóa.

II. Thách thức trong quản lý giáo dục bảo tồn văn hóa dân tộc thiểu số

Mặc dù có nhiều nỗ lực trong việc quản lý giáo dục bảo tồn văn hóa, nhưng vẫn còn nhiều thách thức cần phải vượt qua. Những thách thức này bao gồm sự thiếu hụt tài nguyên, sự không đồng nhất trong nhận thức của cộng đồng và sự thay đổi nhanh chóng của xã hội hiện đại.

2.1. Thiếu hụt tài nguyên và cơ sở vật chất

Nhiều trường học tại Bình Phước thiếu cơ sở vật chất và tài liệu giáo dục phù hợp để giảng dạy về văn hóa dân tộc. Điều này ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục và khả năng tiếp cận thông tin của học sinh.

2.2. Sự không đồng nhất trong nhận thức của cộng đồng

Nhận thức về tầm quan trọng của việc bảo tồn văn hóa dân tộc thiểu số còn hạn chế trong một số cộng đồng. Điều này dẫn đến sự thiếu quan tâm và hỗ trợ cho các hoạt động giáo dục bảo tồn văn hóa.

III. Phương pháp quản lý giáo dục bảo tồn văn hóa dân tộc thiểu số hiệu quả

Để quản lý giáo dục bảo tồn văn hóa dân tộc thiểu số một cách hiệu quả, cần áp dụng các phương pháp quản lý hiện đại và phù hợp với đặc thù văn hóa của từng dân tộc. Các phương pháp này bao gồm việc nâng cao nhận thức, bồi dưỡng năng lực cho giáo viên và phát triển chương trình giảng dạy.

3.1. Nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lý và giáo viên

Cần tổ chức các khóa đào tạo và hội thảo để nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lý và giáo viên về tầm quan trọng của việc bảo tồn văn hóa dân tộc thiểu số. Điều này sẽ giúp họ có những phương pháp giảng dạy hiệu quả hơn.

3.2. Phát triển chương trình giảng dạy phù hợp

Chương trình giảng dạy cần được thiết kế để phù hợp với đặc điểm văn hóa của từng dân tộc. Việc tích hợp các nội dung văn hóa vào chương trình học sẽ giúp học sinh hiểu rõ hơn về giá trị văn hóa của mình.

IV. Ứng dụng thực tiễn trong quản lý giáo dục bảo tồn văn hóa

Các ứng dụng thực tiễn trong quản lý giáo dục bảo tồn văn hóa dân tộc thiểu số đã cho thấy những kết quả tích cực. Những hoạt động này không chỉ giúp học sinh nâng cao nhận thức mà còn tạo ra môi trường học tập thân thiện và gần gũi với văn hóa dân tộc.

4.1. Tổ chức các hoạt động ngoại khóa

Các hoạt động ngoại khóa như lễ hội văn hóa, ngày hội dân tộc giúp học sinh trải nghiệm và thực hành các giá trị văn hóa. Đây là cơ hội để học sinh giao lưu và học hỏi từ nhau.

4.2. Hợp tác với cộng đồng địa phương

Việc hợp tác với các tổ chức và cộng đồng địa phương trong việc tổ chức các hoạt động giáo dục sẽ tạo ra sự gắn kết giữa nhà trường và cộng đồng, từ đó nâng cao hiệu quả bảo tồn văn hóa.

V. Kết luận và hướng đi tương lai cho quản lý giáo dục bảo tồn văn hóa

Quản lý giáo dục bảo tồn văn hóa dân tộc thiểu số tại Bình Phước cần được tiếp tục cải thiện và phát triển. Các biện pháp quản lý cần được áp dụng linh hoạt và phù hợp với từng tình huống cụ thể để đạt được hiệu quả cao nhất.

5.1. Đề xuất các biện pháp quản lý

Cần đề xuất các biện pháp quản lý cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục bảo tồn văn hóa. Các biện pháp này nên được xây dựng dựa trên thực tiễn và nhu cầu của từng cộng đồng.

5.2. Tương lai của giáo dục bảo tồn văn hóa dân tộc thiểu số

Tương lai của giáo dục bảo tồn văn hóa dân tộc thiểu số tại Bình Phước phụ thuộc vào sự quan tâm và đầu tư của các cấp chính quyền, cũng như sự tham gia tích cực của cộng đồng và các tổ chức xã hội.

24/07/2025
Luận văn thạc sĩ quản lý hoạt động giáo dục bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc thiểu số cho học sinh ở các trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh bình phước

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA DÂN TỘC THIỂU SỐ CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC NỘI TRÚ 1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Quan điểm của chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số Đất nước Việt Nam với 54 DT anh em, ở mỗi một DT đều có những nét VH riêng. Ở mỗi thời đại, việc đánh giá về những giá trị đó đều có dấu ấn của lịch sử, của thời đại.

Thời kỳ thực dân phong kiến, mặc dù đã có hệ thống trường học do chế độ thực dân xây dựng nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu về giáo dục bảo tồn bản sắc văn hoá, giá trị VH truyền thống trong nhà trường, chỉ có một số công trình nghiên cứu về đặc điểm VH của các DT nhằm mục đích phục vụ cho chính sách “chia để trị”của chế độ thực dân phong kiến. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đầu tiên truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam, đã kết hợp một cách đúng đắn sáng tạo giữa tinh hoa VH phương Đông và phương Tây, giữa sức mạnh DT và sức mạnh thời đại. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Người đã rất nhiều lần nhấn mạnh việc giáo dục bảo tồn, phát huy bản sắc văn hoá, các giá trị truyền thống của các DT Việt Nam. Trong báo cáo chính trị tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ II Đảng Lao động Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ những mục tiêu cơ bản mà cách mạng Việt Nam cần phải đạt được trong lĩnh vực văn hoá là: Phải triệt để tẩy trừ mọi di tích thuộc địa và ảnh hưởng nô dịch của văn hoá đế quốc, đồng thời phát triển những truyền thống tốt đẹp của văn hoá DT và hấp thụ những cái mới của văn hoá tiến bộ thế giới để xây dựng một nền văn hoá Việt Nam có tính DT, khoa học và đại chúng.

Chủ trương trên đây thể hiện rõ ràng quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giá trị văn hoá DT. Người đòi hỏi phải biết giữ gìn vốn văn hoá quý báu của DT, khôi phục những yếu tố tích cực trong kho tàng văn hoá DT, loại bỏ những yếu tố tiêu cực trong đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân. Đây là quan điểm bảo tồn bản sắc văn hoá DT có chọn lọc của Hồ Chí Minh. Tư tưởng 8 Hồ Chí Minh về vấn đề này là một kho tàng lý luận có tính thực tiễn vô giá để lại cho Đảng và nhân dân ta tiếp tục nghiên cứu vận dụng trong công cuộc hội nhập và thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH) đất nước hiện nay.

Quan điểm của Đảng về công tác bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số VH DTTS là một bộ phận của nền VH Việt Nam nói chung. Trong thời kỳ đổi mới, quá trình xây dựng, ban hành và thực thi các quan điểm, chủ trương, chính sách về VH cho thấy Đảng và Nhà nước hết sức coi trọng việc bảo tồn và phát huy, phát triển VH các DTTS, xem đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng góp phần xây dựng nền VH Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc DT. Nội dung “Đề cương VH Việt Nam” năm 1943, Đảng ta chủ trương xây dựng nền VH Việt Nam theo 3 phương châm là: “DT hóa, khoa học hóa và hiện đại hóa”, đây chính là nền tảng lý luận xây dựng nền VH Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc DT. Năm 1998 tại Hội nghị Ban chấp hành Trung ương (BCHTW) lần thứ Năm Khóa VIII đã xác định phương hướng chung, quan điểm cơ bản và nhiệm vụ cụ thể xây dựng và phát triển nền VH Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc DT.

Quan điểm chỉ đạo cơ bản như sau: “VH là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội; Nền VH của chúng ta xây dựng là nền VH tiên tiến, đậm đà bản sắc DT; Nền VH Việt Nam là nền VH thống nhất đa dạng trong cộng đồng các DT Việt Nam…” (Đảng cộng sản Việt Nam, 1998). Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng đã nêu rõ: “Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; Do dân làm chủ, có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ; Có nền VH tiên tiến đậm đà bản sắc DT. Như vậy xây dựng nền VH tiên tiến, đậm đà bản sắc DT là mục tiêu, một nhiệm vụ quan trọng trong xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay. 9 Về bản sắc DT của nền VH Việt Nam được chỉ rõ trong Văn kiện Hội nghị BCHTW lần thứ Năm Khóa VIII: "Bản sắc DT bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các DT Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước.

Ðó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường DT, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc; lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống. Bản sắc VH DT còn đậm nét cả trong các hình thức biểu hiện mang tính DT độc đáo". Văn kiện của Đại hội khóa XI tiếp tục khẳng định: “Xây dựng và thực hiện các chính sách bảo tồn, phát huy giá trị VH, ngôn ngữ, chữ viết các DTTS” (Đảng Cộng sản Việt Nam. Như vậy Đảng và Nhà nước ta luôn có những chủ trương, chính sách nhằm ưu tiên, phát triển vùng DTTS và miền núi với quan điểm chỉ đạo xuyên suốt: các DT trong đại gia đình các DT Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, thương yêu, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ.

Quy định của Nhà nước về công tác bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số Hiện thực hóa quan điểm của Đảng, Nhà nước cũng đã có nhiều tác động khá mạnh mẽ đối với vấn đề bảo tồn và phát triển VH các DTTS thông qua việc xây dựng và thực hiện các cơ chế chính sách, đầu tư tài chính như: Chỉ thị số 38/2004/CT-TTg ngày 09/11/2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng tiếng DTTS đối với cán bộ, công chức công tác ở vùng DT, miền núi; Nghị định 82/2010/NĐ-CP ngày 15/7/2010 của Chính phủ về việc dạy và học tiếng nói chữ viết của DTTS trong các cơ sở giáo dục phổ thông và trung tâm giáo dục thường xuyên; Thông tư liên tịch số 50/2011/TTLB-BGDĐT-BTC- BNV ngày 03/11/2011 của liên Bộ GD&ĐT, Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ hướng dẫn thực hiện Nghị định số 82/2010/NĐ-CP; Thông tư số: 12/2014/TT-BVHTTDL Quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định số 05/2011/NĐ-CP ngày 14 tháng 01 năm 2011 của Chính phủ về công tác DT. 10 Đặc biệt ngày 27 tháng 7 năm 2011, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 1270/ QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Bảo tồn, phát triển văn hoá các DTTS Việt Nam đến năm 2020”. Đề án đã xác định các nhiệm vụ trọng tâm: Bảo tồn khẩn cấp văn hoá các DTTS rất ít người; Xây dựng đời sống văn hoá và môi trường văn hoá vùng đồng bào DTTS; Chủ thể VH, cộng đồng kế thừa và thực hành VH có một vai trò to lớn và là nhân tố quyết định trong việc bảo tồn và phát huy di sản VH truyền thống của các DTTS; Coi trọng và tổ chức thực hiện các chương trình về bảo tồn, phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp và xây dựng, phát triển những giá trị mới về văn hoá, văn học, nghệ thuật, đặc biệt là hỗ trợ sự phát triển ngôn ngữ, chữ viết của các DTTS. Các công trình nghiên cứu Vào thời kỳ đất nước đổi mới, nhất là những năm gần đây có nhiều công trình, đề tài khoa học, hội thảo khoa học trong nước về lĩnh vực VH đã công bố liên quan đến đề tài với nhiều góc độ tiếp cận khác nhau.

Nhà văn hóa Hữu Ngọc, trong một công trình nghiên cứu về VH Việt Nam “Lãng du trong VH Việt Nam”đã cảnh báo: “Chúng ta đang “đánh mất mình” không những trong kiến trúc mà còn ở nhiều lĩnh vực khác: đạo lý, phong tục tập quán, nghệ thuật, gia đình, hôn nhân…VH nói chung” (Hữu Ngọc, 2007). Tác giả Trần Văn Giàu trong tác phẩm “Giá trị tinh thần truyền thống của DT Việt Nam” (Nhà xuất bản (NXB) Khoa học xã hội, Hà Nội (HN), 1980), tác giả Phan Huy Lê và tác giả Vũ Minh Giang trong đề tài nghiên cứu “Các giá trị truyền thống và con người Việt Nam hiện nay” (Chương trình khoa học Công nghệ cấp Nhà nước, đề tài gồm 2 tập, xuất bản năm 1994 và 1996), Tác giả Trần Ngọc Thêm, với tác phẩm: “Tìm về bản sắc VH Việt Nam” (NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 2001) và “Cơ sở VH Việt Nam (NXB Giáo dục, 1997) đã cung cấp cho chúng ta những kiến thức, khái niệm làm nền tảng cho ngành văn hóa học. Cũng theo tác giả Trần Ngọc Thêm, trong tác phẩm “Tìm về bản sắc VH Việt Nam” chỉ rõ: “VH là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự 11 tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình”.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ