Luận án: Quản lý dự án đầu tư xây dựng ngành than Quảng Ninh giảm thiểu ô nhiễm môi trường

Tối ưu hóa quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình ngành than Quảng Ninh nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường, đảm bảo phát triển bền vững và tuân thủ quy định.

Trường đại học

Đại học Kiến trúc Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2023

268
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về quản lý dự án than Quảng Ninh giảm thiểu ô nhiễm

Ngành than Quảng Ninh đóng vai trò trụ cột trong nền kinh tế năng lượng Việt Nam. Tỉnh Quảng Ninh là nơi tập trung trữ lượng than lớn nhất cả nước, với hàng trăm dự án khai thác, sàng tuyển và tiêu thụ than hoạt động liên tục. Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) và Tổng công ty Đông Bắc là hai đơn vị chủ lực quản lý hoạt động này. Quá trình khai thác than tạo ra sản lượng hàng chục triệu tấn mỗi năm. Hoạt động này đồng thời gây áp lực lớn lên môi trường tự nhiên. Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình ngành than đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp quản lý. Hệ thống pháp luật bao gồm Luật Xây dựng, Luật Khoáng sản, Luật Đấu thầu và nhiều nghị định hướng dẫn tạo nền tảng pháp lý cho công tác quản lý. Mục tiêu kép đặt ra là phát triển sản xuất đồng thời bảo vệ môi trường sống của người dân Quảng Ninh.

1.1. Tình hình phát triển ngành than tại Quảng Ninh

Quảng Ninh là trung tâm khai thác than lớn nhất Việt Nam với lịch sử phát triển hàng trăm năm. Sản lượng than khai thác và tiêu thụ duy trì ở mức cao, phục vụ nhu cầu điện lực, hóa chất, xi măng và xuất khẩu. TKV đóng góp phần lớn sản lượng than toàn quốc. Giai đoạn 2011-2020, tổng sản lượng tiêu thụ than đạt khoảng 44-50 triệu tấn mỗi năm. Trong đó, nhu cầu nội địa chiếm tỷ trọng lớn, đặc biệt từ ngành điện. Hoạt động khai thác tập trung tại các khu vực Uông Bí, Cẩm Phả, Hạ Long, Đông Triều.

1.2. Vai trò quản lý dự án trong giảm thiểu ô nhiễm môi trường

Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình ngành than có vai trò quyết định trong giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Công tác quản lý bao gồm lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và giám sát các hoạt động xây dựng, khai thác. Nhà nước đã ban hành hệ thống văn bản pháp luật đầy đủ, từ Luật đến các Nghị định hướng dẫn. Các đơn vị quản lý dự án phải tuân thủ nghiêm ngặt quy trình đánh giá tác động môi trường. Quản lý hiệu quả giúp kiểm soát nguồn thải, tối ưu hóa quy trình sản xuất và bảo vệ hệ sinh thái tự nhiên.

II. Phân tích các vấn đề ô nhiễm môi trường từ ngành than Quảng Ninh

Hoạt động khai thác và chế biến than tại Quảng Ninh gây ra nhiều vấn đề ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Ô nhiễm nước mặt là vấn đề nổi cộm nhất, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống dân cư. Nhiều con suối, dòng sông chịu tác động nặng nề từ hoạt động khai thác than. Hàm lượng chất rắn lơ lửng TSS, chất hữu cơ và kim loại nặng trong nước thường xuyên vượt quy chuẩn cho phép. Các nguồn nước mặt như suối Lộ Phong, suối Moong Cọc 6, sông Mông Dương, suối Hà Lầm đều bị ô nhiễm. Đặc biệt, mùa mưa là thời điểm ô nhiễm tăng cao do nước thải từ các mỏ than chảy tràn. Sông Cầm tại Đông Triều có hàm lượng TSS, chất hữu cơ, thủy ngân và sắt ở mức cao trong giai đoạn 2016-2017. Suối cầu Lim thường xuyên bị ô nhiễm bởi kim loại nặng như Hg, Mn, Cd, Fe. Sông Sinh và sông Uông có hàm lượng NH4+ và NO2- vượt nhiều lần giới hạn cho phép. Các vấn đề này đòi hỏi giải pháp quản lý dự án toàn diện.

2.1. Ô nhiễm nguồn nước mặt từ hoạt động khai thác than

Nguồn nước mặt tại Quảng Ninh chịu tác động trực tiếp từ hoạt động khai thác than. Suối Lộ Phong, suối Moong Cọc 6, sông Mông Dương và suối Hà Lầm là những nguồn nước bị ô nhiễm nặng. Hàm lượng chất rắn lơ lửng TSS, chất hữu cơ và kim loại nặng duy trì ở mức cao. Sông Cầm tại cầu Cầm (Đông Triều) ghi nhận hàm lượng thủy ngân và sắt cao trong giai đoạn 2016-2017. Từ năm 2018, các chỉ số này giảm đáng kể nhờ các biện pháp xử lý. Tuy nhiên, chất lượng nước suối cầu Lim vẫn không đạt hạng A2 của QCVN 08-MT:2015.

2.2. Ô nhiễm không khí và đất từ hoạt động sàng tuyển vận chuyển than

Hoạt động sàng tuyển và vận chuyển than gây ô nhiễm không khí nghiêm trọng tại Quảng Ninh. Bụi than phát tán trong quá trình khai thác, vận chuyển và chế biến ảnh hưởng đến sức khỏe người dân. Khí thải từ các nhà máy sàng tuyển chứa nhiều chất ô nhiễm độc hại. Đất đai tại khu vực mỏ bị suy thoái do tích tụ các chất độc hại từ than. Ô nhiễm đất ảnh hưởng đến khả năng canh tác nông nghiệp của vùng lân cận. Tiếng ồn từ hoạt động khai thác cũng tác động tiêu cực đến đời sống cộng đồng dân cư xung quanh.

III. Giải pháp quản lý dự án than Quảng Ninh giảm thiểu ô nhiễm môi trường

Giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường từ ngành than đòi hỏi tiếp cận hệ thống và đồng bộ. Quản lý dự án phải tích hợp các yếu tố bảo vệ môi trường ngay từ giai đoạn lập kế hoạch. Đánh giá tác động môi trường (ĐTM) là bước bắt buộc trước khi triển khai dự án. Công nghệ xử lý nước thải hiện đại cần được đầu tư tại các cơ sở khai thác và sàng tuyển. Hệ thống hồ chứa nước thải, bể lắng và thiết bị lọc giúp xử lý hiệu quả các chất ô nhiễm. Quản lý chất thải rắn từ quá trình khai thác cần tuân thủ quy trình nghiêm ngặt. Giám sát môi trường định kỳ giúp phát hiện sớm các vấn đề ô nhiễm. Đào tạo nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lý và công nhân là yếu tố then chốt. Hợp tác giữa doanh nghiệp, chính quyền địa phương và cộng đồng tạo nền tảng cho giải pháp bền vững. Ứng dụng công nghệ mới trong khai thác than giúp giảm thiểu phát thải và tối ưu hóa tài nguyên.

3.1. Công nghệ xử lý nước thải và kiểm soát ô nhiễm nguồn nước

Công nghệ xử lý nước thải đóng vai trò quan trọng trong giảm thiểu ô nhiễm nguồn nước mặt. Hệ thống bể lắng, bể lọc áp lực và hồ chứa điều hòa được áp dụng tại các mỏ than. Công nghệ xử lý hóa lý giúp loại bỏ kim loại nặng như thủy ngân, sắt, mangan. Hệ thống mương dẫn nước mưa giúp ngăn nước thải chảy tràn ra môi trường tự nhiên. Giám sát chất lượng nước định kỳ tại các trạm quan trắc đảm bảo phát hiện kịp thời ô nhiễm. Quy trình vận hành hệ thống xử lý nước thải phải tuân thủ QCVN 08-MT:2015 về chất lượng nước mặt.

3.2. Hoàn thiện hệ thống quản lý và giám sát môi trường trong dự án than

Hệ thống quản lý môi trường cần được hoàn thiện theo tiêu chuẩn quốc tế. Xây dựng quy trình quản lý môi trường tích hợp trong toàn bộ vòng đời dự án. Thiết lập mạng lưới quan trắc môi trường tại các khu vực trọng điểm ô nhiễm. Ứng dụng công nghệ thông tin trong giám sát và cảnh báo ô nhiễm thời gian thực. Ban hành quy định cụ thể về trách nhiệm của từng đơn vị trong bảo vệ môi trường. Đánh giá định kỳ hiệu quả các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm và điều chỉnh kịp thời. Tăng cường hợp tác quốc tế trong chuyển giao công nghệ xử lý môi trường.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tế quản lý dự án than Quảng Ninh

Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình ngành than tại Quảng Ninh là nhiệm vụ phức tạp, đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ giữa nhiều yếu tố. Kết quả nghiên cứu cho thấy ngành than Quảng Ninh đã có những bước tiến trong quản lý môi trường. Từ năm 2018, chất lượng nước tại một số nguồn như sông Cầm đã cải thiện đáng kể. Tuy nhiên, nhiều nguồn nước mặt vẫn bị ô nhiễm nặng, đặc biệt là suối cầu Lim và sông Uông. Giải pháp quản lý dự án hiệu quả phải bao gồm cả yếu tố kỹ thuật và quản lý. Đầu tư công nghệ xử lý nước thải, khí thải là ưu tiên hàng đầu. Hoàn thiện khung pháp lý và tăng cường giám sát giúp nâng cao hiệu quả quản lý. Ứng dụng thực tế cho thấy sự phối hợp giữa TKV, chính quyền địa phương và cộng đồng đạt kết quả tích cực. Bài học kinh nghiệm từ Quảng Ninh có thể áp dụng cho các tỉnh có hoạt động khai thác khoáng sản khác. Phát triển bền vững ngành than cần sự cam kết lâu dài từ tất cả các bên liên quan.

4.1. Bài học kinh nghiệm từ quản lý dự án than tại Quảng Ninh

Bài học quan trọng nhất từ Quảng Ninh là sự cần thiết của quản lý tổng hợp. Quản lý dự án phải tích hợp mục tiêu kinh tế và bảo vệ môi trường ngay từ đầu. Đánh giá tác động môi trường cần được thực hiện nghiêm túc và khách quan. Giám sát môi trường liên tục giúp phát hiện sớm và xử lý kịp thời các sự cố. Sự tham gia của cộng đồng dân cư trong giám sát môi trường mang lại hiệu quả cao. Hợp tác giữa các cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp là yếu tố quyết định thành công.

4.2. Định hướng phát triển bền vững ngành than Quảng Ninh

Phát triển bền vững ngành than Quảng Ninh cần chiến lược dài hạn. Chuyển đổi sang công nghệ khai thác thân thiện với môi trường là ưu tiên. Đa dạng hóa nguồn năng lượng giảm phụ thuộc vào than đá. Tái tạo cảnh quan môi trường sau khai thác đảm bảo phát triển bền vững. Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho quản lý môi trường ngành than. Xây dựng mô hình khu công nghiệp than sinh thái làm hình mẫu. Tăng cường hợp tác quốc tế trong nghiên cứu và ứng dụng công nghệ xanh.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình ngành than tại quảng ninh đáp ứng yêu cầu giảm thiểu ô nhiễm môi trường

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Tổng quan về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình ngành than và môi trường Chương 2. Cơ sở khoa học và pháp lý quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình ngành than tại Quảng Ninh đáp ứng yêu cầu giảm thiểu ô nhiễm môi trường. quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình ngành than tại Quảng Ninh đáp ứng yêu cầu giảm thiểu ô nhiễm môi trường 6 8.

Các khái niệm, thuật ngữ liên quan đến nội dung của luận án - Dự án đầu tư xây dựng công trình là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để tiến hành hoạt động xây dựng để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chi phí xác định. Ở giai đoạn chuẩn bị dự án ĐTXD, dự án được thể hiện thông qua Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi ĐTXD, Báo cáo nghiên cứu khả thi ĐTXD hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật ĐTXD. [42] - Chủ đầu tư xây dựng công trình (sau đây gọi là chủ đầu tư) là cơ quan, tổ chức, cá nhân sở hữu vốn, vay vốn hoặc được giao trực tiếp quản lý, sử dụng vốn để thực hiện hoạt động ĐTXD. [42] - Hoạt động xây dựng gồm lập quy hoạch xây dựng, lập dự án ĐTXD công trình, khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng, thi công xây dựng, giám sát xây dựng, QLDA, lựa chọn nhà thầu, nghiệm thu, bàn giao đưa công trình vào khai thác sử dụng, bảo hành, bảo trì công trình xây dựng và hoạt động khác có liên quan đến xây dựng công trình [42] - Hoạt động tư vấn ĐTXD gồm lập quy hoạch xây dựng, lập dự án ĐTXD công trình, khảo sát, thiết kế xây dựng, thẩm tra, kiểm định, thí nghiệm, QLDA, giám sát thi công và công việc tư vấn khác có liên quan đến hoạt động ĐTXD.

[42] - Lập dự án ĐTXD gồm việc lập Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi ĐTXD (nếu có), Báo cáo nghiên cứu khả thi ĐTXD hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật ĐTXD và thực hiện các công việc cần thiết để chuẩn bị ĐTXD. [42] - Người quyết định đầu tư là cá nhân hoặc người đại diện theo pháp luật của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp có thẩm quyền phê duyệt dự án và quyết định ĐTXD. [42] - Nhà thầu trong hoạt động ĐTXD (sau đây gọi là nhà thầu) là tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện năng lực hoạt động xây dựng, năng lực hành nghề xây dựng khi tham gia quan hệ hợp đồng trong hoạt động ĐTXD. [42] - Thẩm định là việc kiểm tra, đánh giá của người quyết định đầu tư, chủ đầu tư, cơ quan chuyên môn về xây dựng đối với những nội dung cần thiết trong quá 7 trình chuẩn bị và thực hiện dự án ĐTXD làm cơ sở xem xét, phê duyệt.

[42] - Thẩm tra là việc kiểm tra, đánh giá về chuyên môn của tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện năng lực hoạt động xây dựng, năng lực hành nghề xây dựng đối với những nội dung cần thiết trong quá trình chuẩn bị và thực hiện dự án ĐTXD làm cơ sở cho công tác thẩm định. [42] - Khai thác khoáng sản là hoạt động nhằm thu hồi khoáng sản, bao gồm xây dựng cơ bản mỏ, khai đào, phân loại, làm giàu và các hoạt động khác có liên quan. [43] - Quy hoạch khoáng sản bao gồm quy hoạch điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản; quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng các loại khoáng sản; quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng quặng phóng xạ; quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng các loại khoáng sản làm vật liệu xây dựng. [43] - Khai trường (mine site): Nơi tiến hành khai thác khoáng sản; khai trường có thể khai thác một hoặc nhiều loại khoáng sản đồng thời trên một phần hoặc toàn bộ một khoáng sàng.

[3] - Mỏ lộ thiên (surface mine, open pit mine, open-cast mine): Khu vực tiến hành khai thác bằng cách bóc hết phần đất đá nằm trên để thu hồi khoáng sản ở phần phía dưới theo một trình tự xác định. Mỏ lộ thiên có thể bao gồm một hoặc một số khai trường. [3] - Xưởng sàng tuyển (washing and siting workshop): Nơi tập hợp trang thiết bị, dây chuyền công nghệ để tiến hành các công đoạn: đập, nghiền, sàng phân cấp và tuyển rửa nhằm nâng cao chất lượng khoáng sản và phân loạị sản phẩm theo yêu cầu sử dụng. [3] - Mỏ hầm lò là khu vực khai thác than hay diệp thạch bằng phương pháp hầm lò.

Mỏ hầm lò bao gồm các bộ phận khai thác, đào chống lò, thông gió, cơ điện, vận tải và các bộ phận phục vụ khai thác khác. TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH NGÀNH THAN VÀ MÔI TRƯỜNG 1. Tình hình phát triển ngành than trên thế giới 1. Các giai đoạn phát triển của thị trường khai thác, sàng tuyển, tiêu thụ than trên thế giới Công nghiệp khai thác than xuất hiện tương đối sớm và được phát triển từ nửa sau thế kỉ XIX.

Sản lượng than khai thác rất khác nhau giữa các thời kì, giữa các khu vực và các quốc gia, song nhìn chung, có xu hướng tăng lên. Trong vòng 50 năm qua, tốc độ tăng trung bình là 5,4%/năm, còn cao nhất vào thời kì 1950 - 1980 đạt 7%/năm. Từ đầu thập kỉ 90 đến nay, mức tăng giảm xuống chỉ còn 1,5%/năm [66]. Mặc dù việc khai thác và sử dụng than có thể gây hậu quả xấu đến môi trường (đất, nước, không khí.), song nhu cầu than không vì thế mà giảm đi.

Các khu vực và quốc gia khai thác nhiều than đều thuộc về các khu vực và quốc gia có trữ lượng than lớn trên thế giới. Sản lượng than tập trung chủ yếu ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, Bắc Mỹ, Nga và một số nước Đông Âu. Các nước sản xuất than hàng đầu là Trung Quốc, Hoa Kỳ, Ấn Độ, Ôxtrâylia, Nga, chiếm tới 2/3 sản lượng than của thế giới. Nếu tính cả một số nước như Nam Phi, CHLB Đức, Ba Lan, CHDCND Triều Tiên.

thì con số này lên đến 80% sản lượng than toàn cầu. [68] Công nghiệp khai thác than ra đời trước tiên ở Anh, sau đó, người ta tìm thấy nhiều than ở Hoa Kỳ, Ấn Độ, Canađa. Vì thế các quốc gia này lần lượt dẫn đầu về sản lượng than khai thác của thế giới. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, hàng loạt bể than khổng lồ đã được phát hiện ở Êkibát, Nam Yacút, Đônbát (Liên Xô cũ), ở Ba Lan, Đông Đức.

Trong nhiều năm, Liên Xô dẫn đầu về sản lượng than. Từ sau năm 1990 do những biến động về chính trị và kinh tế nên sản lượng than ở Đông Âu và Liên Xô cũ bị giảm sút. Từ thập niên 90 của thế kỷ XX, việc tìm ra những mỏ than lớn ở Trung Quốc đã giúp nước này đứng đầu thế giới về khai thác than, vượt trên cả Hoa Kỳ [74]. Thị trường than quốc tế mới chỉ chiếm trên 10% sản lượng than khai thác.

Việc buôn bán than gần đây phát triển nhờ thuận lợi về giao thông đường biển, song sản lượng than xuất khẩu không tăng nhanh, chỉ dao động ở mức 550 đến 600 triệu tấn/năm. Từ nhiều năm nay, Ôxtrâylia luôn là nước xuất khẩu than lớn nhất thế giới, 9 chiếm trên 35% (210 triệu tấn năm 2001) lượng than xuất khẩu. Tiếp sau là các nước Trung Quốc, Nam Phi, Hoa Kỳ, Inđônêxia, Côlômbia, Canađa, Nga, Ba Lan. Các nước công nghiệp phát triển như Nhật Bản, Hàn Quốc, Hà Lan, Pháp, Italia, Anh.

có nhu cầu rất lớn về than và cũng là các nước nhập khẩu than chủ yếu. Theo BP Statistical (2021): từ năm 1991 đến 2015, tình hình khai thác than thế giới có những mốc sụt giảm đáng chú ý với nguyên nhân chính từ các cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính lớn trên thế giới [76]. Cụ thể là:  Giai đoạn 1991÷1993: Tăng trưởng khai thác than thế giới bị âm (-3,9%; - 0,8% và -2,7%) do ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng trong lĩnh vực ngân hàng (tác động đến giao dịch thương mại quốc tế) và khủng hoảng của nền kinh tế Ấn Độ (một quốc gia khai thác, sử dụng than lớn trên thế giới).  Giai đoạn 1997÷1998: Một lần nữa khai thác than tăng trưởng âm (-1,7%) khi châu Á - tiêu thụ than lớn nhất thế giới lâm vào cuộc khủng hoảng tài chính.

 Giai đoạn 2002÷2003: Tốc độ tăng trưởng khai thác than giảm xuống dưới 1% khi kinh tế Nam Mỹ khủng hoảng.  Giai đoạn 2008÷2009: Tốc độ tăng trưởng khai thác than giảm 0,02% khi cả thế giới rơi vào cuộc khủng hoảng tài chính.  Giai đoạn 2014÷2015: Tốc độ tăng trưởng khai thác than giảm 4,0%, chủ yếu do tác động của giá dầu giảm và suy giảm kinh tế làm cho nhu cầu than giảm. Châu Á dẫn đầu thế giới về sản lượng khai thác than gần như trong toàn giai đoạn 1991÷2015.

Xu hướng sản xuất than trong 25 năm qua giữa các khu vực cũng có sự khác nhau. Khu vực Bắc Mỹ giảm, Trung Đông và châu Âu và Eurasia có xu hướng giảm. Trong khi khu vực châu Á - Thái Bình Dương, châu Phi, Trung - Nam Mỹ có xu hướng tăng mạnh, nhưng đến 2015 thì giảm. Theo BP Statistical (2021), sản lượng than thế giới năm 2015 đạt 3.830,1 triệu TOE (tương ứng khoảng 7.

Trong đó, châu Á - Thái Bình Dương chiếm 70,6%; khu vực Bắc Mỹ chiếm 12,9%; khu vực châu Âu và Eurasia chiếm 11% và châu Phi chiếm 3,9%. Sản lượng than khu vực châu Á - Thái Bình Dương đạt 2.702,6 triệu TOE (tương ứng khoảng 5.440 triệu tấn), tính riêng cho Trung Quốc 1.827 triệu TOE (bằng 3.693 triệu tấn, chiếm 47,7%), tiếp theo là Ấn Độ, Australia, Indonesia lần lượt là 283,9 triệu tấn TOE (681 triệu tấn); 275 triệu TOE (483,5 triệu tấn) và 241,1 triệu TOE (394,6 triệu tấn). Sản lượng than khu vực châu Âu và Eurasia đạt 419,8 triệu 10 TOE (tương ứng khoảng 1. Trong đó, Nga 184,5 triệu TOE (tương ứng khoảng 372 triệu tấn).

Tiếp theo là Đức, Ba Lan và Kazacxtan lần lượt là 42,9; 53,7 và 45,8 triệu TOE (tương ứng khoảng 184,3; 136,6 và 106,3 triệu tấn). Sản lượng than Bắc Mỹ đạt 494,3 triệu TOE (tương ứng khoảng 888 triệu tấn). Trong đó, Mỹ 455,2 triệu TOE (tương ứng khoảng 812 triệu tấn), Canada 32,1 triệu TOE (tương ứng khoảng 60,9 triệu tấn). Dự báo sản lượng khai thác và tiêu thụ than trong thời gian tới Theo dự báo của FOCUSECONOMICS tháng 5/2016, sản lượng than đến năm 2035 của toàn thế giới như bảng 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ