phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1. Những vấn đề lý luận về quản lý dự án CNTT Chƣơng 2. Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3. Thực trạng công tác quản lý dự án công nghệ thông tin tại Cục CNTT và Thống kê Hải quan Chƣơng 4.
Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý dự án CNTT 13 CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ DỰ ÁN CÔNG NGHỆ THÔNG TIN 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan Toàn cầu hóa những năm 1990 đã làm xuất hiện khuynh hƣớng xã hội quan trọng, đó là sự chuyển trạng thái từ xã hội công nghiệp sang xã hội tri thức và trong đó thông tin giữ vai trò trọng yếu. Sự phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) ngày nay báo trƣớc một thời kỳ mới với những thay đổi xã hội lớn lao.
Trong tác phẩm “CNTT như một công nghệ chung xâm nhập vào mọi lĩnh vực kinh tế xã hội” chỉ ra CNTT sẽ thay đổi các điều kiện thị trƣờng và vị trí của các đối tác trong cấu trúc chuỗi cung cấp, ngƣời tiêu dùng sẽ giữ vai trò quan trọng thiết yếu trong toàn bộ chuỗi này. Điều đó sẽ có một tác động to lớn đến cấu trúc bên trong và bên ngoài của các công ty. Hơn nữa, khi lao động chủ yếu dựa trên cơ sở tri thức thì nội dung và hình thức của nó cũng sẽ thay đổi. Nguyễn Xuân Tƣ (2013) Một số kinh nghiệm trong công tác thanh tra các dự án đầu tư chuyên ngành thông tin và truyền thông, tổng hợp các nghiên cứu về kinh nghiệm trong công tác thanh tra các dự án đầu tƣ chuyên ngành thông tin và truyền thông.
Nghiên cứu bao gồm các vấn đề nhƣ: Khái quát về dự án đầu tƣ, Thanh tra các dự án đầu tƣ, Một số tính đặc thù của các dự án đầu tƣ chuyên ngành thông tin và truyền thông, Một số các sai phạm thƣờng gặp trong thanh tra các dự án đầu tƣ chuyên ngành thông tin và truyền thông. Quản lý dự án phần mềm trong thực tiễn (Software Project Management in Practice) của tác giả Pankaj Jalote, xuất bản năm 2002 mô tả các quy trình đã đƣợc sử dụng trong một công ty tầm cỡ thế giới để quản lý hiệu quả các dự án phần mềm. Công ty này là Infosys, một công ty phát triển 14 phần mềm có một thành tích tuyệt vời trong việc thực hiện dự án; chỉ tính riêng trong năm 2000, những ngƣời quản lý dự án ở Infosys đã sử dụng các quy trình đƣợc mô tả ở đây để thực hiện thành công khoảng 500 dự án cho khách hàng. Cuốn sách này thảo luận về tất cả các khía cạnh khác nhau của quản lý dự án ở Infosys - lập kế hoạch, thực hiện, và kết thúc.
Bạn sẽ học làm thế nào những ngƣời quản lý dự án ở Infosys ƣớc lƣợng/dự toán, lập kế hoạch quản lý rủi ro, thu thập các số đo (metrics), thiết lập các mục tiêu chất lƣợng, sử dụng các phép đo để giám sát một dự án, v. Một khía cạnh thú vị của các quy trình này, sẽ hấp dẫn cho những ngƣời quản lý dự án bận rộn, là chúng không phức tạp, cũng không cồng kềnh, sử dụng các số đo đơn giản. Các nghiên cứu Phương pháp quản lý dự án phần mềm trên website http:// www.vn chỉ ra một trong những phƣơng pháp nổi trội trong những phƣơng pháp quản lý dự án phần mềm thành công nhất hiện nay đó là phƣơng pháp chuyển giao theo thuyết tiến triển (Evolutionary delivery), thƣờng đƣợc gọi là “EVO method”. Kết quả của phƣơng pháp EVO là sự kiểm soát đồng nhất trong việc phát triển dự án, cho kết quả nhanh hơn, chất lƣợng tốt hơn, giảm sự căng thẳng cho ngƣời phát triển và mang lại sự hài lòng cho khách hàng.
Điểm cần chú ý là ngay ở giai đoạn đầu của dự án và cuối mỗi chu kỳ, SweetSoft phải có đƣợc một sản phẩm có thể dùng đƣợc, 100% làm việc đƣợc. Tất nhiên, không phải tất cả 100% những yêu cầu đều phải có. Điều này giúp cho khách hàng có đƣợc định hƣớng và tầm nhìn khi đƣa sản phẩm vào dùng. Quy trình cơ bản phát triển và quản lý dự án phần mềm đƣợc đăng tải trên Thời báo vi tính Sài gòn số ra ngày 25/2/2010 đƣa ra những nghiên cứu về quy trình của một dự án phát triển phần mềm để đƣợc đƣợc triển khai thành công trong thực tế phụ thuộc vào nhiều yếu tố và quy trình khác nhau, trong đó các quy trình Phát triển phần mềm và Quản lý dự án có vai trò quan 15 trọng nhất.
Mặc dù về nguyên tắc, một giám đốc dự án giỏi không nhất thiết phải là chuyên gia hàng đầu về kỹ thuật phát triển phần mềm, tuy nhiên nếu thiếu am hiểu và không có kinh nghiệm về kỹ thuật phát triển phần mềm, sẽ rất khó khăn để quản lý và bảo đảm dự án sẽ đi đến thành công. Vì lý do đó, trong thực tế phần lớn các giám đốc dự án phần mềm thƣờng có “xuất thân” từ các vị trí kỹ thuật, am hiểu về kỹ thuật phát triển phần mềm, cộng với kiến thức, kỹ năng, các tố chất và kinh nghiệm cần thiết để quản trị dự án. Bài viết Kỹ sư chất lượng phần mềm: anh là ai? đƣợc đăng tải trên website http://www.vn giúp chúng ta hiểu rõ hơn về lực lƣợng chuyên gia quan trọng này. Khi các công ty phần mềm Việt Nam có sự phát triển về tầm vóc cũng nhƣ sự gia tăng về số lƣợng các dự án thực hiện cho các khách hàng quốc tế - vốn đòi hỏi các quy trình kiểm soát chất lƣợng nghiêm ngặt, đã làm xuất hiện nhu cầu tuyển dụng các chuyên viên đảm nhận vai trò của các kỹ sƣ bảo đảm chất lƣợng phần mềm hay kỹ sƣ giám sát quy trình chất lƣợng (gọi chung là kỹ sƣ chất lƣợng.
Vai trò của các kỹ sƣ chất lƣợng dù không mới trên thế giới nhƣng còn khá mơ hồ và chƣa đƣợc ứng dụng nhiều tại Việt Nam. Bài viết này đã khái quát các nét cơ bản nhất về lực lƣợng chuyên gia quan trọng này. Cơ sở lý luận và thực tiễn 1. Khái niệm Công nghệ thông tin Công nghệ thông tin là sự hoà nhập của công nghệ máy tính với công nghệ liên lạc viễn thông đƣợc thực hiện nhờ công nghệ vi điện tử.
Liên lạc là công nghệ lâu đời nhất trong số 3 công nghệ kể trên. Các hệ thống liên lạc bằng điện đã phát triển suốt từ những năm 1840. Công nghệ máy tính ra đời từ những năm 1940, thoạt đầu vì những mục đích quân sự. Công nghệ vi điện tử bắt đầu từ những năm 1960 và đã sớm dẫn đến sự hội tụ nhanh chóng của 16 cả 2 công nghệ lâu đời hơn thành một công nghệ mới mà ngày nay chúng ta gọi là Công nghệ thông tin.
Sự hình thành CNTT đƣợc thể hiện qua sơ đồ sau: Hình 1. Sự hình thành công nghệ thông tin Trong nghị quyết Chính phủ 49/CP kí ngày 04/08/1993: "Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kĩ thuật hiện đại - chủ yếu là kĩ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội". Theo từ điển Wikipedia: “Công nghệ thông tin là ngành quản lý công nghệ và mở ra nhiều lĩnh vực khác nhau như phần mềm máy tính, hệ thống thông tin, phần cứng máy tính, ngôn ngữ lập trình nhưng lại không giới hạn một số thứ như các quy trình và cấu trúc dữ liệu. Tóm lại, bất cứ thứ gì mà biểu diễn dữ liệu, thông tin hay tri thức trong các định dạng nhìn thấy được, thông qua bất kỳ cơ chế phân phối đa phương tiện nào thì đều được xem là phần con của lĩnh vực công nghệ thông tin.
Công nghệ thông tin cung cấp cho các doanh nghiệp bốn nhóm dịch vụ lõi để giúp thực thi các chiến lược kinh doanh đó là: quá trình tự động kinh doanh, cung cấp thông tin, kết nối với khách hàng và các công cụ sản xuất”. Nhƣ vậy, công nghệ thông tin là một lĩnh vực công nghệ nghiên cứu đến sự xử lí thông tin, truyền thông tin theo phƣơng thức hiện đại. Gọi là 17 Công nghệ thông tin. Nhƣng có liên quan đến các thiết bị truyền thông tin nên phải nghiên cứu cả về phần cứng.
Để phần cứng hoạt động đƣợc và lƣu trữ thông tin thành các file thì phải có phần mềm cài đặt trên phần cứng. Đó là các vấn đề của Công nghệ thông tin. Khái niệm dự án đầu tư ứng dụng CNTT * Dự án đầu tư Theo “Giáo trình Quản lý dự án” (2012) của PGS.TS Từ Quang Phƣơng thuộc trƣờng Đại học kinh tế Quốc dân: Theo nghĩa chung nhất, dự án là một lĩnh vực hoạt động đặc thù, một nhiệm vụ cần phải được thực hiện với phương pháp riêng, nguồn lực riêng và theo một kế hoạch tiến độ nhằm tạo ra một thực thể mới. Trên phƣơng diện quản lý, có thể định nghĩa dự án nhƣ sau: Dự án là những nỗ lực có thời hạn nhằm tạo ra một sản phẩm hoặc dịch vụ duy nhất.
Một số đặc trƣng của dự án nhƣ sau: Tính tạm thời: Tạm thời có nghĩa là các dự án có một điểm khởi đầu và một điểm kết thúc xác định. Điểm kết thúc đạt đƣợc khi mục đích của dự án đƣợc hoàn thành, hoặc khi chúng ta thấy rõ ràng rằng mục đích của dự án sẽ đạt hoặc không thể đạt đƣợc và dự án bị chấm dứt. Tính tạm thời không có nghĩa là giới hạn trong một thời gian ngắn; rất nhiều dự án kéo dài nhiều năm. Tuy nhiên, trong mọi trƣờng hợp, thời gian của dự án là xác định; các dự án không phải là những cố gắng liên tục.
Thêm vào đó, tính tạm thời không áp dụng chung cho các sản phẩm hoặc dịch vụ tạo ra bởi dự án. Hầu hết các dự án đƣợc thực hiện để tạo ra một kết quả lâu dài. Ví dụ, một dự án để xây dựng một đài tƣởng niệm quốc gia sẽ tạo ra một kết quả đƣợc kéo dài hàng nhiều thế kỷ. Rất nhiều công việc mang tính tạm thời với ý nghĩa là nó sẽ kết thúc vào một thời điểm nào đó.
Ví dụ, công việc lắp đặt ở một dây chuyền cuối cùng sẽ không đƣợc tiếp tục (vì đã lắp xong) và bản thân dây chuyền cũng 18 không đƣợc sử dụng nữa (khi nó hết thời hạn sử dụng).