Chương 1: Cơ sở lý luận về QL đội ngũ TTCM ở trường TH theo hướng tiếp cận PTNNL. - Chương 2: Thực trạng QL đội ngũ TTCM ở trường TH huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hoá theo hướng tiếp cận PTNNL. - Chương 3: Biện pháp QL đội ngũ TTCM ở trường TH huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa theo hướng tiếp cận PTNNL. 8 ` Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ TỔ TRƢỞNG CHUYÊN MÔN Ở TRƢỜNG TIỂU HỌC THEO HƢỚNG TIẾP CẬN PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề Trong nhà trường phổ thông nói chung, trong đó có nhà trường TH, đội ngũ TTCM là lực lượng quan trọng nhất đảm bảo chất lượng đào tạo của nhà trường vì là người trực tiếp triển khai những yêu cầu về mục tiêu, nội dung, phương pháp…của đổi mới GDPT, là cấp quản lý trực tiếp đội ngũ GV để giúp nhà trường thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ dạy học. - Khi nghiên cứu về quản lý đội ngũ theo tiếp cận PTNNL, hầu hết các tác giả đều khẳng định, QL đội ngũ bao gồm các thành tố, như: lập quy hoạch về nhu cầu, số lượng, chất lượng, cơ cấu; thực hiện quy hoạch (thu hút, lựa chọn, tuyển chọn và sử dụng); đào tạo, bồi dưỡng; đánh giá; đảm bảo các chế độ chính sách phù hợp. Có thể kể đến các nghiên cứu nổi bật sau đây: Tác giả Nguyễn Tiến Hùng trong bài viết “Quản lý nguồn nhân lực chiến lược dựa vào năng lực” nhấn mạnh: quản lý đội ngũ CBQL trường trung học phổ thông và nhân viên ngành giáo dục phải không chỉ lập được quy hoạch về nhu cầu, về số lượng, chất lượng và cơ cấu, mà còn phải thực hiện quy hoạch (thu hút, lựa chọn, tuyển chọn và sử dụng; đào tạo và đánh giá, trả công và khen thưởng.) đội ngũ này phù hợp với các giai đoạn phát triển giáo dục khác nhau.[13] Tác giả Nguyễn Đức Trí cho rằng, NNL chỉ trở thành động lực của sự phát triển của đất nước khi nó được phát huy thông qua đào tạo, sử dụng, bồi dưỡng, tạo hành lang pháp lý, chế độ chính sách phù hợp.[40] Tác giả Vũ Văn Tảo nhận định, quản lý nguồn nhân lực bao gồm ba mặt chủ yếu nhất là GD&ĐT, NNL, sử dụng - bồi dưỡng NNL, đầu tư việc 9 ` làm, nuôi dưỡng môi trường cần thiết cho NNL, chủ yếu là môi trường việc làm”.[35] Tác giả Phan Văn Kha cũng khẳng định, QLNNL bao gồm các thành tố: Đào tạo, bồi dưỡng và đào tạo lại; tuyển và sử dụng nhân lực; chăm sóc sức khỏe và tạo môi trường.[25] - Khi xác định đội ngũ GV là NNL của một ngành cụ thể, các nhà nghiên cứu đã có nhiều công trình đề cập đến quản lý đội ngũ GV theo hướng tiếp cận QLNNL. Quản lý đội ngũ GV được các tác giả nghiên cứu với các nội dung: Lập kế hoạch phát triển; tuyển, sử dụng và sàng lọc; đào tạo và đào tạo lại, bồi dưỡng đội ngũ; kiểm tra, giám sát, đánh giá; tạo môi trường phát triển.
Theo tác giả Nguyễn Phúc Châu, quản lý đội ngũ trong một tổ chức được hiểu là hoạt động nhằm có một lực lượng lao động đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đạt chuẩn về tình độ đào tạo và đảm bảo chất lượng (phẩm chất, năng lực) đáp ứng được nhiệm vụ và chức năng của tổ chức đó, đồng thời đáp ứng được yêu cầu phát triển KT-XH. Theo ông, đội ngũ của một tổ chức cũng chính là NNL của tổ chức đó, vì vậy việc phát triển đội ngũ cũng chính là phát triển NNL.[5] Tác giả Phan Văn Kha cho rằng, quản lý đội ngũ GV bao gồm các nội dung, như: (1) Lập kế hoạch phát triển đội ngũ GV (về đào tạo, bồi dưỡng GV; tuyển dụng và sử dụng GV; về đầu tư trang thiết bị làm việc; các chính sách đối với GV.); (2) Tổ chức và chỉ đạo thực hiện quy hoạch; (3) Kiểm tra, đánh giá công tác xây dựng và triển khai thực hiện quy hoạch phát triển đội ngũ GV. Các công trình nghiên cứu nêu trên cơ bản đã giải quyết những vấn đề lý luận cũng như thực tiễn về xây dựng và phát triển đội ngũ TTCM của các cơ sở giáo dục ở một số địa phương cụ thể, chưa có công trình nào nghiên cứu vấn đề quản lý đội ngũ TTCM ở các trường TH trên địa bàn huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa. Do vậy, việc nghiên cứu, đề xuất các biện pháp QL đội ngũ TTCM của Hiệu trưởng ở trường tiểu học huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa theo hướng tiếp cận PTNNL là cần thiết nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới GD, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục học sinh ở các trường tiểu học tại địa phương hiện nay.
Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý Quản lý là một hoạt động đã có từ rất lâu. Trải qua hàng vạn năm qua các thời kỳ phát triển lịch sử của xã hội loài người“Quản lý đã trở thành một hoạt động phổ biến, diễn ra trên mọi lĩnh vực, mọi cấp độ và có liên quan đến mọi người. Đó là loại hoạt động xã hội bắt nguồn từ tính chất cộng đồng dựa trên sự phân công và hiệp tác để làm một công việc nhằm đạt mục tiêu chung”[1].
11 ` Thuật ngữ quản lý được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau trên cơ sở những cách tiếp cận khác nhau. Từ điển Giáo dục học quan niệm quản lý là: “Hoạt động hay tác động có định hướng, có chủ định của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”.[12] Henry Fayol (1841-1925), người đặt nền móng cho lý luận tổ chức cổ điển cho rằng “Quản lý tức là lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra”. Khái niệm này xuất phát từ khái quát về chức năng của quản lý.W cho rằng “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó thấy được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất". Như vậy, thuật ngữ quản lý tuy đã trở nên phổ biến, nhưng hiện vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất, song đều có điểm chung ở bản chất của hoạt động quản lý đó là sự tác động một cách có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý, làm cho tổ chức vận hành đạt được mục tiêu mong muốn.
Phát triển nguồn nhân lực 1. Phát triển Khái niệm “phát triển” xuất hiện khá sớm ở phương Tây và được sử dụng đi đôi với “không phát triển”, “chậm phát triển”. Có thời kì khái niệm phát triển còn được gắn với khái niệm văn minh. Với khái niệm văn minh, chủ nghĩa thực dân phương Tây đã tự cho mình có nhiệm vụ lịch sử đem ánh sáng văn minh đến khai hóa cho các dân tộc lạc hậu, chậm phát triển.
Theo nguyên lý về sự phát triển của chủ nghĩa Mác-Lênin: Phát triển là một phạm trù triết học dùng để chỉ quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của sự vật. Nguồn gốc của sự phát triển nằm ngay trong bản thân sự vật [11]. 12 ` Như vậy, phát triển liên quan đến 2 khía cạnh: (i) Sự gia tăng về số lượng và chủng loại, chẳng hạn sự gia tăng về số lượng, cơ cấu của đội ngũ TTCM ở trường TH; (ii) Sự thay đổi về chất lượng, chẳng hạn nâng cao năng lực đội ngũ TTCM ở trường TH đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục. Mặt khác, nguyên lí về sự phát triển của chủ nghĩa Mác-Lênin cũng chỉ ra rằng: Khi xem xét sự vật, hiện tượng trong quá trình vận động và phát triển phải phân chia thành những giai đoạn, phải nắm bắt được những cái đang tồn tại, đồng thời thấy được khuynh hướng phát triển trong tương lai, thấy được những biến đổi đi lên cũng như những biến đổi có tính chất tụt lùi.
Song điều cơ bản là phải khái quát những biến, vạch ra những khuynh hướng biến đổi chính của sự vật từ đó có tác động phù hợp thúc đẩy sự phát triển. Bài viết: “Về khái niệm phát triển”[36], tác giả Bùi Đình Thanh, trên cơ sở nghiên cứu lịch sử của khái niệm phát triển và phân tích nội dung của các chỉ báo phát triển bền vững, đã đưa ra khái niệm: “Phát triển là một quá trình tiến hóa của mọi xã hội, mọi cộng đồng dân tộc trong đó các chủ thể lãnh đạo và quản lí, bằng các chiến lược và chính sách thích hợp với những đặc điểm về lịch sử, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của xã hội và cộng đồng dân tộc mình, tạo ra, huy động và quản lý các nguồn lực tự nhiên và con người nhằm đạt được những thành quả bền vững và được phân phối công bằng cho các thành viên trong xã hội vì mục đích không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của họ”. Từ những phân tích nêu trên, trong phạm vi luận văn này, chúng tôi cho rằng: Phát triển là sự gia tăng về số lượng và chủng loại, điều chỉnh về cơ cấu và nâng cao chất lượng. Phát triển nguồn nhân lực Về mặt quản lý, phát triển nguồn nhân lực thuộc lĩnh vực quản lý các quá trình diễn ra trong xã hội loài người.
Mặt khác, như phần tổng quan đã trình bày, quản lý phát triển nguồn nhân lực, quản trị nguồn nhân lực,. được 13 ` nhiều công trình đề cập trong nghiên cứu PTNNL: Theo Leonard Nadle (Mỹ), quản trị nguồn nhân lực có ba nhiệm vụ chính là: Phát triển nguồn nhân lực; sử dụng nguồn nhân lực và môi trường nguồn nhân lực. Trong đó, phát triển NNL gồm: Quy hoạch; tuyển chọn, sử dụng; đánh giá; bồi dưỡng, đào tạo lại và xây dựng môi trường làm việc. Anthony Carnavale cho rằng phát triển NNL là quản lý nhân lực bao gồm: đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng có hiệu quả đội ngũ nhân lực; Nguyễn Minh Đường, PTNNL là phát triển thể con người và phát triển đội ngũ nhân lực.
Đồng thời còn phải tính đến mối quan hệ và ảnh hưởng của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, như: KT-XH, khoa học công nghệ, hợp tác quốc tế và hội nhập và xu thế của thời đại.[10] Như vậy, có thể hiểu PTNNL theo các khía cạnh như sau: Thứ nhất, PTNNL là một nhiệm vụ của quản lý/quản trị nguồn nhân lực.Vì vậy, mặc dù chủ thể quản lý ở cấp chiến lược (quản lý Nhà nước - vĩ mô), hay cấp tác nghiệp (cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp,. - vi mô) đều phải thực hiện nhiệm vụ quản lý PTNNL. Thứ hai, PTNNL là quản lý phát triển con người.