Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TIỂU HỌC THEO YÊU CẦU CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 2018 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu về đội ngũ giáo viên Đội ngũ giáo viên là lực lượng nòng cốt của các cơ sở giáo dục. Đã có nhiều tác giả nghiên cứu về đội ngũ GV ở các góc độ khác nhau như: dự báo nhu cầu và năng lực của đội ngũ GV.
Có thể kể một số công trình của các tác giả ở nước ngoài, tiêu biểu như: Daiel R. Arends (1998)… Các công trình nghiên cứu đã phân tích về vấn đề dự báo nhu cầu và năng lực của đội ngũ GV dựa trên các quan điểm cơ bản sau đây: (1) Đề xuất các mô hình và hoạt động để phát triển nghề nghiệp cho đội ngũ GV ; (2) Nghiên cứu đề xuất cải tiến các kĩ năng và tăng cường hiểu biết nghề nghiệp cho đội ngũ GV. Xu hướng nghiên cứu này đã được các quốc gia trong khối APEC triển khai thực hiện trong đào tạo, bồi dưỡng giáo viên. Các nước ở Châu Á Thái Bình Dương cũng coi đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ GV là một trong những khâu then chốt để phát triển kinh tế, phát triển văn hóa - xã hội.
Các quốc gia này rất coi trọng việc phát triển năng lực nghề nghiệp cho đội ngũ GV, thực hiện dự báo về phát triển năng lực nghề nghiệp cho GV như là yêu cầu của tiến trình cải cách giáo dục. Nhóm nghiên cứu Anne Grosso de Leon và cộng sự trong nghiên cứu “Hành trang cho giáo viên theo quan điểm quốc tế - mô hình đào tạo giáo viên, giáo viên cần biết những gì?” đã đề xuất mô hình nhân cách giáo viên trong thời kỳ mới gồm: 1. Kiến thức sư phạm nói chung, 2. Có hiểu biết về hoàn cảnh của học sinh nói chung, 3.
Có khả năng đánh giá chính xác, 4. Có kiến thức về chiến lược giáo dục, 5. Có kỹ năng hiểu biết về các nền văn hóa 7 xã hội, 6. Có kiến thức và thái độ chính trị đúng đắn, 7.
Có khả năng ứng dụng công nghệ thông tin… [34]. Lần đầu tiên nghề dạy học được chính thức khẳng định là một nghề trên phạm vi toàn thế giới vào năm 1966 trong bản khuyến nghị về vị thế GV của ILO/UNESCO. Điều đó mở ra còn đường chủ đạo trong phát triển GV, đó là định hướng chuyên nghiệp hóa. Định hướng này nghiên cứu và nhấn mạnh đến năng lực nghề nghiệp của người GV, với những cách hiểu và phương thức thực hiện khác nhau.
Ban đầu được thực hiện ở các nước nói tiếng Anh vào những năm 1970, rồi tiến đến Đức và các nước Bắc Âu vào những năm 1980, đến Pháp những năm 1990, sau đó lan dần sang các nước Đông Âu và các nước đang phát triển. Sự xuất hiện của các công nghệ dạy học mới, sự phát triển nhanh của thế giới đặt ra yêu cầu thay đổi vai trò và phương pháp của người thầy càng trở nên cấp thiết.Beerens trong các nghiên cứu của mình đã chủ trương sáng tạo ra một “nền văn hóa” của động cơ nghề nghiệp và học tập suốt đời (Creatinga Culture of Motivation and Learning) cho đội ngũ GV, coi đó là giá trị mới, chính yếu tạo ra năng lực nghề nghiệp của người GV. Đây là một ý tưởng rất đáng được quan tâm trong bối cảnh mà xã hội đang thiếu sự tin tưởng vào nền giáo dục. Nghiên cứu này được đánh giá cao cả về mặt lý luận và thực tiễn trong việc phát triển năng lực của đội ngũ GV đáp ứng yêu cầu của hội nhập quốc tế [50].
Ở trong nước, có nhiều quan điểm và những vấn đề lý luận cơ bản về nguồn nhân lực giáo dục được các tác giả: Phạm Minh Hạc, Đặng Quốc Bảo, Bùi Minh Hiền, Nguyễn Xuân Hải, Trần Kiểm, Phạm Thành Nghị… tiến hành nghiên cứu, phân tích, đánh giá. Tác giả Phạm Minh Hạc đã đưa ra mô hình cấu trúc nhân cách người GVTH gồm 4 tiểu cấu trúc: 1. Thế giới quan khoa học, niềm tin, lương tâm, bộ mặt đạo đức và trình độ văn hóa chung cao; 2. thái độ tích cực đối với hoạt động sư phạm; 3.
năng lực sư phạm; 4. tri thức, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp 8 [25]. Bốn tiểu cấu trúc trong nhân cách người GVTH có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, người GV cần phải tích cực tự đào tạo, bồi dưỡng để phát triển nhân cách toàn diện, đảm bảo đầy đủ các tiểu cấu trúc như trên. Tác giả Hồ Ngọc Đại với quan niệm nghề thầy giáo cũng được coi trọng như mọi nghề khác, nên cần bộ đồ nghề, và cần căn cứ vào nhu cầu của người khác, của xã hội mà tạo ra sản phẩm - học sinh.
Tác giả Hồ Ngọc Đại rất tâm huyết với nghề dạy học, đặc biệt là việc tổ chức dạy học cho học sinh tiểu học. Tác giả cho rằng, nhờ có bộ đồ nghề mà nghề thầy giáo cũng có quyền được hưởng vinh dự như mọi nghề khác [16; tr.29] Theo kết quả nghiên cứu của các tác giả kể trên, dựa trên xu hướng đa dạng hóa của xu hướng nghề nghiệp, có hai điểm được các tác giả thống nhất, bao gồm: Về mục đích: nhằm nâng cao chất lượng và vị thế của nghề dạy học; về yêu cầu nghề nghiệp: GV có khả năng sử dụng kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm vững vàng, có kinh nghiệm thực tế phong phú để có cách ứng xử sư phạm phù hợp trước các tình huống khác nhau vì sự phát triển toàn diện nhân cách của học sinh. Các công trình nghiên cứu về xây dựng chuẩn nghề nghiệp GV nhằm hướng tới việc đảm bảo chất lượng GV, bởi GV là lực lượng quyết định chất lượng giáo dục. Các quốc gia, các vùng lãnh thổ trên thế giới đều có nghiên cứu kết hợp với thực tế nghề nghiệp để đưa ra chuẩn nghề nghiệp GV nói chung hoặc theo cấp học và việc phát triển chuẩn.
Ở Việt Nam, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành một loạt quy định về chuẩn nghề nghiệp GV các cấp học. Ngày 22/8/2018, Bộ GD&ĐT đã ban hành Thông tư 20/2018/TT-BGDĐT, Ban hành quy định về chuẩn nghề nghiệp giáo viên cơ sở giáo dục phổ thông. Theo quy định, chuẩn nghề nghiệp GVTH bao gồm 5 lĩnh vực: phẩm chất nhà giáo; phát triển chuyên môn, nghiệp vụ; xây dựng môi trường giáo dục; phát triển mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội; sử dụng ngoại ngữ hoặc tiếng dân tộc, ứng dụng công nghệ thông tin, khai thác và sử dụng thiết bị công nghệ trong dạy học, giáo dục. So quy định chuẩn nghề nghiệp GVTH được quy định năm 9 2008 là 3 lĩnh vực: phẩm chất sư phạm, kiến thức và kỹ năng sư phạm; thì quy định chuẩn nghề nghiệp GVTH 2018 được mở rộng hơn, đòi hỏi đội ngũ GVTH ngày càng cao hơn để đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục.
Như vậy, các công trình nghiên cứu về GV và việc chuẩn hóa nghề nghiệp của GVTH đã được các nhà khoa học quan tâm, lấy đó làm mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng và đánh giá đội ngũ GVTH. Kết quả nghiên cứu của các công trình này luôn được cập nhật, phát triển bởi mô hình nhân cách và chuẩn nghề nghiệp GVTH được thay đổi, cập nhật cho phù hợp với mục tiêu đào tạo của bậc Tiểu học trong mỗi thời kỳ phát triển. Nghiên cứu về quản lý đội ngũ giáo viên Quản lý nguồn nhân lực là vẫn đề cốt lõi trong sự hình thành và phát triển của tổ chức. Quản lý đội ngũ GV đã được quan tâm nghiên cứu từ rất sớm.
Các công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài như: Tác giả Hanrold Koontz khi nghiên cứu về quản lý, cho rằng: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu nó đảm bảo những nỗ lực phối hợp cá nhân nhằm đạt được mục đích của nhóm. Mục tiêu của nhà quản lý là hình thành một môi trường mà con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn ít nhất. Với tư cách thực hành thì quản lý là một nghệ thuật còn với kiến thức thì quản lý là một khoa học” [30]. Trong công tác giáo dục, để đảm bảo cho các hoạt động dạy học, giáo dục học sinh đạt hiệu quả cao, cần có sự quản lý đồng bộ và hệ thống từ trên xuống dưới.
Cán bộ quản lý căn cứ vào những điều kiện hiện có của nhà trường để hoạch định chiến lược, tổ chức và chỉ đạo thực hiện tất cả các hoạt động. Đội ngũ GV là lực lượng nòng cốt đảm bảo cho hoạt động giáo dục trong nhà trường đạt kết quả. Quản lý đội ngũ GV vừa mang tính động, vừa mang tính khoa học và nghệ thuật. Tác giả Leonard Nadle (1980) - một nhà xã hội học người Mỹ đã đưa ra sơ đồ quản lý nguồn nhân lực để diễn tả mối quan hệ và các nhiệm vụ của công tác quản lý nguồn nhân lực.
Theo ông, quản lý nguồn nhân lực gồm ba 10 nhiệm vụ chính: Phát triển nguồn nhân lực (gồm giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng, phát triển, nghiên cứu, phục vụ); Sử dụng nguồn nhân lực (gồm tuyển dụng, sàng lọc, bố trí, đánh giá, đãi ngộ, kế hoạch hóa sức lao động); Môi trường nguồn nhân lực (gồm mở rộng chủng loại việc làm, mở rộng quy mô làm việc, phát triển tổ chức). Kết quả nghiên cứu của Leonard Nadle đã được nhiều nước trên thế giới sử dụng và vận dụng vào các tổ chức nghề nghiệp khác nhau. Christian Batal (Pháp) trong bộ sách “Quản lý nguồn nhân lực trong khu vực nhà nước” cũng đã khai thác theo hướng này và đưa ra một lý thuyết tổng thể về phát triển nguồn nhân lực. Trong đó, ông đã sử dụng các kết quả nghiên cứu của các báo cáo khoa học khác (giáo dục học, khoa học dự báo, dân số học, toán học…) để đưa ra một bức tranh hoàn chỉnh của nhiệm vụ phát triển nguồn nhân lực, bao gồm từ khâu kiểm kê, đánh giá đến nâng cao năng lực, hiệu lực của nguồn nhân lực.Becker và Markv A.Huselid cũng có sự khai thác tương tự, nhưng để phục vụ cho quản trị nhân sự trong các doanh nghiệp [12].
Các công trình nghiên cứu chú ý đến sự kết hợp hài hòa giữa nhu cầu cá nhân GV và mục tiêu của nhà trường trong quản lý, phát triển đội ngũ đã được xuất hiện khá sớm. Các nghiên cứu đều cho rằng: Phát triển GV là thúc đẩy một hoạt động có hệ thống, thỏa mãn hứng thú, ý chí nguyện vọng và nhu cầu của cá nhân, để phát triển sự nghiệp của họ, đáp ứng nhu cầu của cá nhân, đồng thời đáp ứng nhu cầu tương lai của tổ chức.