Quản lý đổi mới dạy học môn Khoa học tự nhiên tại THCS Thanh Khê, Đà Nẵng

Luận văn phân tích thực trạng và đề xuất biện pháp quản lý đổi mới dạy học môn Khoa học tự nhiên tại các trường THCS quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng.

Chuyên ngành

Quản lý giáo dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2024

157
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Cơ sở lý luận về quản lý đổi mới dạy học KHTN

Quản lý đổi mới dạy học KHTN là quá trình tổ chức, điều phối các hoạt động nhằm thực hiện những thay đổi trong phương pháp dạy học, nội dung giáo dụcchiến lược kiểm tra đánh giá môn Khoa học tự nhiên. Đây là một thành phần quan trọng trong chương trình giáo dục phổ thông 2018 tại Việt Nam. Quá trình quản lý đổi mới bao gồm các giai đoạn: chuẩn bị, xây dựng kế hoạch, thực hiện, đánh giá và duy trì kết quả. Các yếu tố tác động bao gồm chủ trương của Đảng, chính sách Nhà nước, kế hoạch giáo dục của nhà trường, và nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên về tầm quan trọng của đổi mới giáo dục. Việc hiểu rõ cơ sở lý luận giúp các nhà quản lý xây dựng chiến lược phù hợp cho từng bối cảnh địa phương.

1.1. Khái niệm quản lý đổi mới dạy học

Quản lý đổi mới dạy học là hoạt động chỉ đạo, điều phối và giám sát sự thay đổi trong quá trình dạy học. Nó liên quan đến việc lập kế hoạch, phân bổ nguồn lực, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, và khuyến khích sáng kiến trong dạy học. Quản lý sự thay đổi bao gồm việc nhận diện rào cản, hỗ trợ người thực hiện, và duy trì động lực để đạt mục tiêu giáo dục.

1.2. Đổi mới dạy học KHTN trong chương trình 2018

Chương trình giáo dục phổ thông 2018 nhấn mạnh đổi mới phương pháp dạy học từ tiếp cận truyền thống sang học tập dựa trên hoạt động, dự án. Các nội dung KHTN được sắp xếp theo chủ đề thực tiễn, giúp học sinh phát triển kỹ năng tư duy khoa họckhả năng giải quyết vấn đề. Kiểm tra đánh giá chuyển biến từ đánh giá kiến thức sang đánh giá năng lực tổng hợp của học sinh.

II. Thực trạng quản lý đổi mới dạy học KHTN tại Đà Nẵng

Tại các trường trung học cơ sở quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, công tác quản lý đổi mới dạy học KHTN có những tiến bộ nhưng vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế. Kết quả khảo sát cho thấy nhận thức của cán bộ quản lýgiáo viên về đổi mới dạy học còn chưa đầy đủ. Nhiều giáo viên gặp khó khăn trong việc ứng dụng phương pháp dạy học mới, thiếu tài liệu hướng dẫn và nguồn lực hỗ trợ. Đặc biệt, điều kiện dạy học như phòng thí nghiệm, thiết bị thực hành khoa học chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu. Công tác đánh giá kết quả đổi mới còn mang tính hình thức, chưa phản ánh đúng tiến độ và hiệu quả thực tế của quá trình đổi mới giáo dục.

2.1. Nhận thức về đổi mới dạy học KHTN

Khảo sát chỉ ra rằng nhận thức của giáo viên về tầm quan trọng của đổi mới dạy học có xu hướng tích cực, nhưng chưa chuyển hóa thành hành động thực tế. Một số giáo viên lo ngại về áp lực công việc tăng thêm, chưa thấy rõ lợi ích trực tiếp của phương pháp dạy học mới. Cán bộ quản lý cần tăng cường công tác thuyết phục và khuyến khích để nâng cao sự cam kết.

2.2. Điều kiện và nguồn lực cho đổi mới

Nguồn lực giáo dục tại các trường còn hạn chế, đặc biệt là thiết bị thực hànhtài liệu hướng dẫn. Phòng thí nghiệm chưa được tận dụng hiệu quả, số lượng và chất lượng đồ dùng dạy học chưa đáp ứng nhu cầu. Thời gian dành cho bồi dưỡng chuyên môn còn ít, giáo viên khó cập nhật kiến thức về phương pháp dạy học tiên tiến.

III. Các biện pháp quản lý đổi mới dạy học KHTN

Để nâng cao hiệu quả quản lý đổi mới dạy học KHTN, cần xây dựng chiến lược quản lý toàn diện bao gồm nhiều biện pháp liên kết. Trước tiên, tổ chức nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên về tầm quan trọng của đổi mới. Thứ hai, bồi dưỡng thường xuyên về chuyên môn và kỹ năng dạy học mới, khuyến khích giáo viên tự học, tự bồi dưỡng. Thứ ba, xây dựng hướng dẫn, qui định rõ ràng để hỗ trợ quá trình đổi mới. Thứ tư, huy động hiệu quả nguồn lực cá nhân, tập thể, cộng đồng. Cuối cùng, thực hiện tốt công tác kiểm tra, đánh giá, duy trì kết quả đã đạt được. Các biện pháp này phải được triển khai đồng bộ, liên tục để đạt hiệu quả bền vững.

3.1. Nâng cao nhận thức và bồi dưỡng đội ngũ

Tổ chức hội thảo, tập huấn định kỳ về chương trình 2018phương pháp dạy học tiên tiến. Bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên thông qua các khóa học, workshop, trao đổi kinh nghiệm giữa các trường. Khuyến khích giáo viên tham dự hội thi, giáo viên dạy giỏi để chia sẻ kỹ năng. Xây dựng cơ chế hỗ trợ cho giáo viên khi gặp khó khăn trong quá trình đổi mới.

3.2. Huy động nguồn lực và hỗ trợ thực hiện

Huy động nguồn lực từ ngân sách nhà nước, xã hội hóa để mua thiết bị, tài liệu dạy học. Hỗ trợ các trường xây dựng phòng thí nghiệm hiện đại, bố trí quỹ thường xuyên cho hoạt động thực hành, thí nghiệm. Phát triển tài liệu hướng dẫn, bài giảng mẫu giúp giáo viên dễ dàng triển khai phương pháp dạy học mới.

IV. Ý nghĩa và khuyến nghị cho quản lý đổi mới dạy học KHTN

Quản lý đổi mới dạy học KHTN không chỉ là yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông 2018 mà còn là nhu cầu cấp thiết để nâng cao chất lượng giáo dục tại Đà Nẵng. Khi triển khai hiệu quả, học sinh sẽ phát triển kỹ năng tư duy phản biện, khả năng giải quyết vấn đề thực tiễn, và ý thức học tập suốt đời. Các giáo viên sẽ có cơ hội phát triển chuyên môn, tăng cường động lực công tác, và góp phần vào sự thay đổi tích cực trong nhà trường. Khuyến nghị chính: (1) Lãnh đạo sở giáo dục cần xây dựng kế hoạch hành động dài hạn về quản lý đổi mới; (2) Các trường nên thành lập đội xung kích chuyên trách; (3) Tăng nguồn lực hỗ trợ, đặc biệt là tài chính và đồ dùng dạy học.

4.1. Ý nghĩa của quản lý đổi mới hiệu quả

Quản lý đổi mới hiệu quả giúp tạo môi trường học tập tích cực, khuyến khích sáng kiến từ giáo viên và học sinh. Nó đảm bảo sự thống nhất, đồng bộ trong triển khai chương trình mới, giảm thiểu sự lúng túng, sai sót. Góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, cạnh tranh quốc tế, và phát triển nhân lực cho xã hội.

4.2. Khuyến nghị cho các cấp quản lý giáo dục

Sở giáo dục cần ban hành chỉ thị, hướng dẫn cụ thể về quản lý đổi mới, theo dõi, đánh giá định kỳ. Các trường cần xây dựng quy hoạch phát triển, bổ sung nhân lực, nâng cấp cơ sở vật chất. Tăng cường hợp tác đa ngành, liên kết với các tổ chức để hỗ trợ quá trình đổi mới bền vững.

18/12/2025
Quản lý đổi mới dạy học môn khoa học tự nhiên tại các trường trung học cơ sở quận thanh khê thành phố đà nẵng

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐỔI MỚI DẠY HỌC MÔN KHOA HỌC TỰ NHIÊN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu nước ngoài Giáo dục có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi dân tộc cũng như của toàn thể nhân loại. Ở mọi thời đại, tại mỗi quốc gia, giáo dục luôn giành nhiều sự quan tâm, nghiên cứu, đầu tư để phát triển.

Xuất phát từ vai trò cần thiết của giáo dục và việc nâng cao chất lượng giáo dục, từ xưa đến nay có rất nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới đã đề cập đến quản lý giáo dục, quản lý HĐDH, PPDH như: Các tác giả P.Saxerđôtôp đã nghiên cứu sâu về công tác lãnh đạo hoạt động giảng dạy, giáo dục trong nhà trường và xem đâu là khâu chủ đạo trong công tác quản lý của CBQL.[30] Trước công nguyên, Socrate đã đưa ra được PPDH bằng nhiều câu hỏi khác nhau nhằm tạo cho học sinh nhiều tình huống có vấn đề và dưới sự hướng dẫn, trợ giúp của giáo viên mà học sinh tự tìm ra tri thức mới, PPDH của ông được gọi là “Phương pháp đỡ đẻ của Socrate”. Đây chính là phương pháp đàm thoại trong dạy học hiện nay.Xukhomlinxki, chỉ rõ tầm quan trọng của việc tổ chức dự giờ và phân tích bài dạy trên góc độ sư phạm. Ông đã cho thấy được thực trạng yếu kém của việc phân tích sư phạm bài dạy dù có hoạt động dự giờ và góp ý với GV sau dự giờ của CBQL diễn ra thường xuyên. Từ đó ông đưa ra nhiều cách phân tích sư phạm bài dạy cho giáo viên.Heller đã nghiên cứu và chỉ ra tính cần thiết của sự thay đổi trường học, các bước tổ chức thực hiện sự thay đổi, mô hình của trường học thành công, v.

Ngoài ra, lý thuyết về quản lý sự thay đổi trong giáo dục đã được nhiều nhà khoa học, nhà quản lý quan tâm nghiên cứu như: Bertie Everard và G.Morris, Ian Wilson với tác phẩm “Quản trị hiệu quả trường học” [2]; Brent Davies và Linda Ellion với cuốn “Quản lý các trường học trong thế kỷ XXI” [4]; Michael D. Maginn với cuốn “Quản lý vào những thời điểm diễn ra thay đổi” .[20] Xã hội ngày càng phát triển, nhưng những tư tưởng trên vẫn giữ nguyên giá trị và tiếp tục được kế thừa, phát triển để tiến tới xây dựng một môi trường học tập tốt nhất nhằm phát huy vai trò tích cực, sáng tạo của học sinh. Các nghiên cứu của các tác giả trên đây có ảnh hưởng rất lớn đến việc nghiên cứu hoạt động quản lý đổi mới giáo dục của nước ta. Vì vậy trong nước cũng có rất nhiều công trình nghiên cứu về các vấn đề này.

Nghiên cứu trong nước Ở nước ta hiện nay, vấn đề đổi mới giáo dục đang được toàn xã hội quan tâm. Chương trình giáo dục phổ thông 2018 được xây dựng theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh, phù hợp với xu thế phát triển chương trình của các nước tiên tiến, nhằm thực hiện yêu cầu Nghị quyết số 29-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 8 khóa XI "Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế". Trước đây, có nhiều công trình nghiên cứu về giáo dục, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường và quản lý hoạt động dạy học ra đời. Tiêu biểu là công trình của các tác giả: Phạm Minh Hạc, Nguyễn Ngọc Quang, Phạm Viết Vượng, Nguyễn Văn Lê, Hà Thế Ngữ, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đặng Xuân Hải, Đặng Vũ Hoạt, Nguyễn Ngọc Bảo, Đặng Thành Hưng, Thái Duy Tuyên,…Những công trình nghiên cứu của các tác giả trên có nhiều giá trị lí luận và thực tiễn được ứng dụng rộng rãi và mang lại hiệu quả to lớn trong quá trình phát triển sự nghiệp giáo dục nước nhà những thập kỉ qua.

Trên tạp chí Giáo dục – Bộ GD&ĐT số tháng 1 năm 2005, tác giả Đặng Xuân Hải có bài viết: “Vận dụng lý thuyết quản lý sự thay đổi để chỉ đạo đổi mới PPDH ở nhà trường trong giai đoạn hiện nay.” [10] Trong cuốn “Giáo trình Quản lý sự thay đổi trong giáo dục”, tác giả Đặng Xuân Hải cũng đã cụ thể hóa “7 bước của quá trình quản lý sự thay đổi”. [11] Trong cuốn “Biện pháp quản lý đổi mới phương pháp dạy học tại các trường trung học cơ sở quận Thanh Khê thành phố Đà Nẵng”, tác giả Lê Thị Hoàng Chinh cũng đã cụ thể hóa “10 bước của quá trình quản lý sự thay đổi”. [6] Nhìn chung tất cả các công trình nêu trên đều đã đề cập đến vấn đề đổi mới dạy học trong nhà trường phổ thông, và đã chỉ ra được sự cần thiết cũng như những nguyên nhân ảnh hưởng đến quá trình thực hiện đổi mới. Đồng thời cũng đã khẳng định được đổi mới dạy học là điều tất yếu trong sự phát triển của xã hội hiện nay.

Các khái niệm chính của đề tài 1. Quản lý và quản lý giáo dục 1. Quản lý Quản lý là một hiện tượng xã hội xuất hiện rất sớm cùng lúc với con người, là một phạm trù tồn tại khách quan được ra đời từ bản thân nhu cầu của mọi chế độ xã hội, mọi quốc gia, trong mọi thời đại. Nó được biểu hiện trong mối quan hệ giữa người và người.

Có nhiều quan niệm khác về quản lý, tùy quan điểm, tùy góc độ nghiên cứu. Sau đây là một số quan niệm tiêu biểu: Harold Koontz trong cuốn “Những vấn đề cốt yếu về quản lý” cho rằng: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó bảo đảm phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm” [17]. Ở Việt Nam, trong những năm qua, cũng có nhiều nhà khoa học đã tiến hành 7 nghiên cứu về lĩnh vực quản lý và đưa ra luận giải khác nhau về khái niệm này. GS Hà Thế Ngữ cho rằng “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu.

Quản lý một hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được mục tiêu nhất định. Những mục tiêu này đặt trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người mong muốn” [21], [22]. Theo tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [18]. Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [15].

Khái quát hơn các tác giả ở Khoa Sư phạm - Đại học Quốc gia Hà Nội Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc đưa ra quan niệm “Quản lý là sự tác động có chủ đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức” [5]. Như vậy, ta có thể thấy rằng quản lý là một hoạt động phức tạp, đòi hỏi sự mềm dẻo, linh hoạt của nhà quản lý. Quản lý có ý nghĩa rất quan trọng với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Nhờ có quản lý mà có thể tạo ra sự thống nhất ý chí trong một tổ chức để có thể đạt được mục tiêu đề ra với hiệu quả cao nhất.

Từ những quan niệm khác nhau ở trên, có thể khái quát như sau: Quản lý là tổ hợp các tác động chuyên biệt, có chủ đích của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý và đối tượng quản lý nhằm phát huy tiềm năng của các yếu tố, các mối quan hệ chức năng, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực và cơ hội của tổ chức/ hệ thống… nhằm đảm bảo cho tổ chức, hệ thống vận hành (hoạt động) tốt, đạt được các mục tiêu đã đặt ra với chất lượng và hiệu quả tối ưu trong các điều kiện biến động của môi trường. Quản lý vừa là khoa học có tính nghệ thuật. Các hoạt động quản lý luôn là hoạt động có tổ chức, có định hướng dựa trên những quy luật, những nguyên tắc và phương pháp hoạt động cụ thể; đồng thời quản lý là một hoạt động thực hành trong thực tiễn vô cùng phong phú và đầy biến động, đòi hỏi phải linh hoạt và khéo léo. Nhà quản lý cần phải có bản lĩnh và linh hoạt, mềm dẻo thì mới có thể xử lý sáng tạo, thành công trong mọi tình huống khác nhau nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu đề ra.

Quản lý có bốn chức năng cơ bản: Kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra. Những chức năng cơ bản trên của quản lý luôn có sự gắn kết với nhau, chi phối với nhau tạo thành một thể thống nhất của hoạt động quản lý. Chủ thể quản lý khi triển khai hoạt động quản lý đều cần thực hiện chu trình này. Quản lý giáo dục Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về quản lý giáo dục, cụ thể như sau: Theo tác giả M.

Kondacov: “Quản lý giáo dục là tập hợp những biện pháp kế hoạch hóa, nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của cơ quan trong hệ thống giáo dục để tiếp tục phát 8 triển, mở rộng hệ thống cả về số lượng cũng như chất lượng” [16]. Nhà giáo dục người Nga P.V Khuđôminxki cho rằng: “Quản lý giáo dục là những tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và có mục đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống giáo dục nhằm bảo đảm sự phát triển toàn diện và hài hòa cho thế hệ trẻ” [13]. Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội. Ngày nay, với sứ mệnh phát triển giáo dục thường xuyên, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà cho mọi người; tuy nhiên trọng tâm vẫn là giáo dục thế hệ trẻ, cho nên quản lý giáo dục được hiểu là sự điều hành của hệ thống giáo dục quốc dân, các trường trong hệ thống giáo dục quốc dân” [1].

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội” [24].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ