CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DỊCH VỤ CHỨNG THỰC CHỮ KÍ SỐ 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 1.1 Các công trình nghiên cứu về quản lý dịch vụ chứng thực chữ kí số Có nhiều nghiên cứu trước đây đã tập trung vào việc phân tích và đánh giá về ứng dụng của dịch vụ chứng thực chữ kí số hay đưa ra những giải pháp nhằm quản lý dịch vụ bưu chính viễn thông nói chung hoặc dịch vụ phần mềm và những tiện ích mà internet mang lại cho người sử dụng, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống trong thời đại công nghệ thông tin như hiện nay. Đề tài nghiên cứu khoa học “ Nghiên cứu một số mô hình thương mại điện tử thành công trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” luận văn thạc sĩ kinh tế của Nguyễn Phương Chi – Đại học Ngoại Thương, theo tác giả ứng dụng công nghệ thông tin vào đời sống kinh tế là vô cùng quan trọng. Luận văn đã chỉ ra một ứng dụng cụ thể đó là hoạt động mua bán qua mạng, đây là một ứng dụng mới, internet đã được đưa vào thương mại hóa, góp phần tạo nên một lĩnh vực thương mại mới đó là thương mại điện tử. Lợi ích thương mại điện tử mang lại là tăng hiệu suất, nâng cao năng lực cạnh tranh, giảm chi phí, giúp cho người dùng có nhiều sự lựa chọn khi mua hàng.
Đề tài nghiên cứu ở một lĩnh vực cụ thể mà áp dụng internet vào đời sống xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống, mang lại tiện ích cho người dùng. Đề tài nghiên cứu khoa học “Nghiên cứu về chữ kí số và ứng dụng trong hóa đơn điện tử tại VNPT Hà Nội” luận văn thạc sĩ của Nguyễn Huy Thắng - Học viện Công nghệ bưu chính viễn thông đã nghiên cứu cụ thể về dịch vụ chữ kí số nói chung và ứng dụng của chữ kí số trong một dịch vụ cụ thể, đó là ứng dụng trong hóa đơn điện tử tại một đơn vị có tính ứng dụng cao 5 là VNPT Hà Nội. Theo tác giả, việc ứng dụng chữ kí số trong sử dụng hóa đơn điện tử là một thành công to lớn của việc ra đời chữ kí số, nó giúp rút ngắn thời gian giao dịch, tiết kiệm chi phí, và tăng cường tính bảo mật cho công tác bảo quản, lưu trữ hóa đơn, và đảm bảo độ chính xác cao. Tuy nhiên đề tài nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu một ứng dụng cụ thể mà chữ kí số được sử dụng, đây mới là một ứng dụng rất nhỏ cho thấy được ứng dụng của dịch vụ này.
Hay đề tài nghiên cứu khoa học “Giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động kinh doanh phần mềm và truyền thông VASC trực thuộc tập đoàn Bưu chính Viễn thông VNPT trong bối cảnh hội nhập” luận văn thạc sĩ của Trần Thị Hòa - Đại học Ngoại thương đã chỉ ra hạn chế và giải pháp trong lĩnh vực kinh doanh và quản lý phần mềm và công nghệ thông tin tại một đơn vị trực thuộc tập đoàn Bưu chính Viễn thông. Theo tác giả việc kinh doanh và quản lý một lĩnh vực mới này vấp phải rất nhiều khó khăn và rào cản từ ngay bản thân doanh nghiệp, ngành, lĩnh vực kinh doanh và còn từ chế độ chính sách, sự hội nhập của kinh tế thế giới. Đề tài này mới chỉ dùng lại ở việc phân tích nhằm đẩy mạnh việc kinh doanh sản phẩm phần mềm nói chung, một lĩnh vực kinh doanh của tập đoàn Bưu chính Viễn thông. Một trong những ứng dụng của chữ kí điện tử phổ biến hiện nay là việc sử dụng nó làm chữ kí trong các văn bản, giấy tờ.
Chữ kí điện tử là công cụ có giá trị pháp lý tương đương chữ kí vào giấy và con dấu, nó giúp cho người dùng dễ lưu trữ, bảo quản, tiết kiệm chi phí, thời gian, giảm bớt các thủ tục hành chính. Chính các mặt tiện ích này đã được đưa vào đề tài nghiên cứu trong luận văn “ Nghiên cứu và ứng dụng chữ ký điện tử vào công tác quản lý văn bản tại trường Đại học Trà Vinh” tác giả Lê Văn Phol, đại học Đà Nẵng, luận văn đã nêu lên lợi ích của việc sử dụng chữ kí điện tử trong công tác điều hành, quản lý văn bản của nhà trường, tiết kiệm chi phí chuyển phát. 6 Về mặt kĩ thuật cũng có một số đề tài nghiên cứu về chữ kí điện tử và chữ kí số như đề tài “ Nghiên cứu, tìm hiểu chữ kí số và ứng dụng của nó để kiểm soát, xác thực và bảo vệ thông tin trong hộ chiếu điện tử” luận văn của Bùi Đức Tuấn, Đại học dân lập Hải Phòng, đề tài này đã chỉ ra nguyên lý, cơ sở hình thành nên chữ kí số và việc ứng dụng những đặc điểm cơ bản của chữ kí số như tính xác thực và bảo mật vào một công việc cụ thể là hộ chiếu điện tử, đây là một trong những ứng dụng của đời sống thực tiễn, góp phần giảm thiểu thủ tục hành chính, hạn chế việc sử dụng hộ chiếu giả, giúp cho nhân viên an ninh tại các cửa khẩu trong việc kiểm tra, kiểm soát khách hàng làm thủ tục xuất nhập cảnh.2 Những vấn đề đặt ra luận văn cần tiếp tục nghiên cứu Quản lý dịch vụ là một trong những đề tài đã được nghiên cứu, phân tích nhiều trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Tuy nhiên có ít các đề tài nghiên cứu về quản lý dịch vụ chứng thực chữ kí số nói chung và đặc biệt là quản lý dịch vụ chứng thực chữ kí số trong doanh nghiệp nhà nước nói riêng.
Các công trình nghiên cứu trước đó chủ yếu nghiên cứu về bản chất, khái niệm và những nội dung cơ bản của quản lý dịch vụ chữ kí số trong thị trường chữ kí số ở Việt Nam. Hoặc các công trình nghiên cứu trước đó mới chỉ dùng lại nghiên cứu một ứng dụng của dịch vụ chứng thực chữ kí số như một dịch vụ ứng dụng trên nền tảng chữ kí số là hóa đơn điện tử hay chữ kí số ứng dụng trong công tác kê khai hải quan, nộp báo cáo thuế, đây là những ứng dụng thực tiễn đã áp dụng được tính năng của chữ kí số vào thực tiễn.Song trong bối cảnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, và đặc biệt trong tình hình tái cơ cấu tập đoàn Bưu chính Viễn thông như hiện nay, thì còn rất nhiều vấn đề cần nghiên cứu được đặt ra đối với quản lý dịch vụ chứng thực chữ kí số. 7 Các đề tài nghiên cứu, công trình nghiên cứu trước đây nghiên cứu về quản lý dịch vụ chứng thực chữ kí số mới chỉ tiếp cận theo quản điểm quản lý chung, cơ bản, chỉ nghiên cứu một khâu, một khía cạnh của quản lý dịch vụ mà chưa thấy tiếp cận theo hướng khoa học về quản lý dịch vụ chứng thực chữ kí số. Chính vì những lý do trên, đề tài nghiên cứu này của tác giả đã đưa ra những nghiên cứu dựa trên cơ sở khoa học về quản lý.
Qua đề tài nghiên cứu này cho chúng ta cái nhìn tổng quát về quản lý dịch vụ chứng thực chữ kí số. Đề tài nghiên cứu này đã chỉ ra nội dung quản lý dịch vụ chứng thực số nói chung và quản lý dịch vụ chứng thực chữ kí số tại Công ty Điện toán và Truyền số liệu (VDC) nói riêng. Qua nghiên cứu, tìm tòi tài liệu và bằng những kiến thức đã được trang bị về chuyên ngành quản lý kinh tế và kinh nghiệm trong công tác tại Công ty Điện toán và truyền số liệu (VDC), tác giả của luận văn đã tập trung đi sâu vào nghiên cứu đánh giá thực trạng đang tồn tại tại Công ty Điện toán và Truyền số liệu và đề ra những giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý dịch vụ chứng thực chữ kí số tại Công ty Điện toán và Truyền số liệu (VDC).2 Cơ sở lý luận về quản lý dịch vụ chứng thực chữ kí số 1.1 Khái niệm nội dung dịch vụ 1.1 Khái niệm về dịch vụ Theo tài liệu của MUTRAP Dự án hỗ trợ thương mại đa biên (2006), cho đến nay chưa có một định nghĩa chính thống nào về dịch vụ. Các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực marketing và kinh doanh đưa rất nhiều khái niệm về dịch vụ, nhưng khái niệm được trích dẫn phổ biến nhất là của 3 nhà nghiên cứu Valarie A.
Zeithaml và Mary J. Bitner (2000): “Dịch vụ là những hành vi, quá trình và cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo ra giá trị sử dụng cho khách hàng, làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng”. James Fitzsimmons “Một dịch vụ là một trải nghiệm bị giới hạn bởi thời gian, 8 vô hình được thực hiện cho một khách hàng hành động trong vai trò của một người cùng sản xuất “. Dịch vụ là mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu một cái gì đó.
Sản phẩm của nó có thể có hay không gắn liền với một sản phẩm vật chất. Dịch vụ là một loại hình hoạt động kinh tế, tuy không đem lại một sản phẩm cụ thể như hàng hóa, nhưng vì là một loại hình hoạt động kinh tế nên cũng có người bán (người cung cấp dịch vụ) và người mua (khách hàng sử dụng dịch vụ). Bên cạnh các hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp và công nghiệp, toàn thể những người/nhà cung cấp dịch vụ hợp thành khu vực thứ ba của nền kinh tế: dịch vụ. Lĩnh vực dịch vụ ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với nền kinh tế toàn cầu.
Có hơn 75% công việc tại Mỹ hiện tại là thuộc các ngành dịch vụ. Các ngành dịch vụ tạo ra 85% công việc mới và đóng góp 66% vào tổng sản phẩm quốc dân (GNP) của nước Mỹ. Ở những nước đang phát triển như Brazil, các ngành dịch vụ cũng chiếm đến 54. Có nhiều ngành dịch vụ khác nhau: - Thương mại - Tài chính - Giao thông, vận tải - Thông tin, tư vấn - Chăm sóc sức khỏe - Giáo dục - Dịch vụ hành chính công 1.2 Đặc tính của dịch vụ Dịch vụ là những công việc, quá trình và những hoạt động nhằm tạo ra giá trị sử dụng cho khách hàng, làm thỏa mãn nhu cầu sản xuất, kinh doanh và 9 sinh hoạt.
Về bản chất, sản phẩm dịch vụ là một sản phẩm vô hình, cũng tương tự như sản phẩm hàng hóa nhưng là phi vật chất.