Tổng quan nghiên cứu

Huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam là vùng đất trung du giàu truyền thống lịch sử, văn hóa với hệ thống 38 di tích đã được kiểm kê, trong đó có 12 di tích được xếp hạng cấp tỉnh trên tổng diện tích tự nhiên 457,92 km². Được chia tách từ huyện Quế Sơn theo Nghị định số 42/2008/NĐ-CP của Chính phủ, huyện Nông Sơn hiện có quy mô dân số khoảng 31.000 người sinh sống tại 6 xã và 1 thị trấn. Mặc dù sở hữu mật độ di sản dày đặc, công tác quản lý nhà nước đối với hệ thống di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn huyện đang đối mặt với nhiều thách thức to lớn trước sức ép của quá trình phát triển kinh tế - xã hội và tác động tiêu cực của thiên tai khắc nghiệt vùng thượng lưu sông Thu Bồn.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm tập trung vào việc giải quyết mâu thuẫn giữa yêu cầu bảo tồn nguyên trạng các giá trị di sản vật thể và phi vật thể với nguồn lực thực thi còn hạn hẹp tại một huyện miền núi khó khăn. Mục tiêu cụ thể của luận văn là hệ thống hóa cơ sở lý luận, khảo sát và đánh giá thực trạng công tác quản lý di tích lịch sử - văn hóa từ năm 2003 đến năm 2020, từ đó chỉ rõ các điểm nghẽn về thể chế, bộ máy và kinh phí để đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đến năm 2025.

Ý nghĩa thực tiễn của công trình nghiên cứu được xác định rõ thông qua việc cung cấp luận cứ khoa học nhằm tối ưu hóa hiệu quả sử dụng nguồn ngân sách nhà nước khoảng 1 tỷ đến 1,5 tỷ đồng mỗi năm cấp cho công tác bảo vệ di tích. Đồng thời, nghiên cứu tạo tiền đề để địa phương hoàn thành mục tiêu khoanh vùng bảo vệ cho 100% di tích đã xếp hạng, củng cố 07 ban quản lý di tích cấp cơ sở và phát huy các di sản tiêu biểu gắn với chiến lược phát triển du lịch văn hóa bền vững của tỉnh Quảng Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý luận về quản lý nhà nước đối với di sản văn hóa, kế thừa tinh thần Sắc lệnh số 65-SL năm 1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Nghị quyết số 03-NQ/TW năm 1998 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Luận văn vận dụng khung pháp lý chủ đạo từ Luật Di sản văn hóa năm 2001 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), đặc biệt là Điều 54 quy định nội dung quản lý nhà nước và Điều 55 quy định thẩm quyền của cơ quan quản lý nhà nước về di sản văn hóa, cùng Nghị định số 98/2010/NĐ-CP và Nghị định số 70/2012/NĐ-CP của Chính phủ.

Bên cạnh đó, tác giả áp dụng mô hình quản lý di sản tích hợp gắn với phát triển du lịch của các nhà nghiên cứu văn hóa hàng đầu tại Việt Nam, kết hợp với các lý thuyết phân cấp quản lý hành chính công. Nghiên cứu làm rõ 4 khái niệm cốt lõi:

  • Di sản văn hóa: Hệ thống các sản phẩm vật chất và tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học được lưu truyền qua các thế hệ.
  • Di tích lịch sử - văn hóa: Các công trình xây dựng, địa điểm và hiện vật đi kèm mang giá trị lịch sử, kiến trúc, nghệ thuật hoặc khảo cổ theo quy định tại Điều 28 Luật Di sản văn hóa.
  • Quản lý nhà nước về di sản văn hóa: Quá trình các cơ quan công quyền sử dụng quyền lực nhà nước, pháp luật và chính sách để điều tiết, bảo tồn và phát huy giá trị di sản.
  • Xã hội hóa hoạt động bảo tồn di tích: Cơ chế huy động sự tham gia đóng góp của các tổ chức, doanh nghiệp và cộng đồng dân cư vào công tác bảo quản, tu bổ di tích.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn tiếp cận đối tượng nghiên cứu thông qua hệ thống phương pháp liên ngành trong khoa học xã hội và quản lý văn hóa:

  • Cỡ mẫu và phạm vi khảo sát: Tác giả tiến hành khảo sát toàn bộ 38 di tích trên địa bàn 7 xã và 1 thị trấn của huyện Nông Sơn. Cỡ mẫu phỏng vấn chuyên sâu bao gồm 15 đối tượng đại diện cho lãnh đạo Ủy ban nhân dân huyện, Phòng Văn hóa - Thông tin, lãnh đạo Ủy ban nhân dân cấp xã, thành viên các ban quản lý di tích cơ sở và người có uy tín trông coi di tích tại các điểm di tích trọng điểm như Dinh Bà Thu Bồn, Khu căn cứ Tân Tỉnh, Mộ cụ Nguyễn Đình Hiến.
  • Phương pháp chọn mẫu: Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích kết hợp chọn mẫu theo cụm địa bàn nhằm đảm bảo tính đại diện cho cả 3 nhóm loại hình di tích: khảo cổ, lịch sử cách mạng và kiến trúc nghệ thuật - danh lam thắng cảnh.
  • Lý do lựa chọn phương pháp: Việc kết hợp giữa phân tích tài liệu thứ cấp (các văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo tổng kết giai đoạn 2003 - 2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam và huyện Nông Sơn) với phương pháp điền dã thực địa và phỏng vấn sâu giúp đối chiếu chính xác giữa quy định chính sách với diễn biến thực tế tại cơ sở, loại bỏ các nhận định chủ quan và phản ánh trung thực thực trạng kỹ thuật của từng di tích.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu đã làm rõ bức tranh toàn cảnh về hệ thống di tích và năng lực quản lý của huyện Nông Sơn giai đoạn 2003 - 2020 với các phát hiện định lượng then chốt:

Thứ nhất, cơ cấu loại hình di tích có sự phân hóa rõ rệt nhưng mất cân đối lớn. Trong tổng số 38 di tích được thống kê tính đến tháng 12 năm 2019, loại hình kiến trúc nghệ thuật và danh lam thắng cảnh chiếm tỷ trọng áp đảo lên tới 84%, loại hình di tích lịch sử chiếm 11%, trong khi loại hình khảo cổ chỉ chiếm 5%. Toàn huyện có 02 di chỉ khảo cổ học quan trọng thuộc nền văn hóa Sa Huỳnh có niên đại từ 2.000 đến 2.500 năm là di chỉ đình Trung Lộc (khai quật năm 2010) và di chỉ Phước Hội (khai quật năm 2011), song nhóm di tích này hoàn toàn chưa được xếp hạng và đứng trước nguy cơ mai một cao.

Thứ hai, kết quả tu bổ và chống xuống cấp đạt được những dấu mốc đáng ghi nhận nhưng còn mang tính cục bộ. Trong giai đoạn 2001 - 2018, huyện đã triển khai tu bổ, tôn tạo cho 19 lượt di tích, trong đó có 12 di tích cấp tỉnh tiêu biểu được đầu tư như Am Tiên (2005), Khe nước vàng (2003), Địa điểm căn cứ Tân Tỉnh (2005), Địa điểm chiến thắng Thạch Bích - Nhụ Sơn (2017). Mặc dù 12 di tích xếp hạng cấp tỉnh được lập quy hoạch tổng thể và cắm mốc khoanh vùng, vẫn còn 26 di tích trong danh mục kiểm kê chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và chưa có nguồn kinh phí chống xuống cấp định kỳ.

Thứ ba, sự hạn chế nghiêm trọng về nguồn lực tài chính và nhân sự chuyên trách. Nguồn kinh phí nhà nước cấp cho công tác bảo vệ, tu bổ di tích chỉ dao động từ 1 tỷ đến 1,5 tỷ đồng mỗi năm. Đội ngũ quản lý văn hóa cấp huyện chỉ có 04 biên chế tại Phòng Văn hóa - Thông tin, trong đó chỉ có duy nhất 01 chuyên viên phụ trách toàn bộ mảng nghiệp vụ chuyên môn đa ngành. Tại cấp cơ sở, 07 ban quản lý di tích cấp xã hoạt động chủ yếu kiêm nhiệm, phụ cấp chi trả phụ thuộc vào nguồn thu tự cân đối của từng di tích nên hiệu quả giám sát hiện trường chưa cao.

Thảo luận kết quả

Khi phân tích sâu các phát hiện nghiên cứu, nguyên nhân cốt lõi dẫn đến sự chậm trễ trong công tác bảo tồn bắt nguồn từ điều kiện kinh tế địa phương. Tốc độ tăng trưởng bình quân của huyện giai đoạn 2010 - 2015 chỉ đạt 10,23%, thấp hơn đáng kể so với mức bình quân 14,85% của tỉnh Quảng Nam, và sụt giảm xuống 5,56% vào năm 2015. Sự sụt giảm kinh tế này khiến tỷ trọng phân bổ ngân sách cho sự nghiệp văn hóa bị thu hẹp.

Dữ liệu nghiên cứu phản ánh bức tranh đối lập giữa nguồn vốn công và nguồn vốn xã hội hóa. Trong khi nguồn vốn nhà nước chỉ đáp ứng mức tu bổ tối thiểu, nguồn lực xã hội hóa đã chứng minh tiềm năng lớn qua trường hợp tiêu biểu tại Khu Nhà bia tưởng niệm liệt sĩ Hóc Thượng (xã Quế Trung), nơi cộng đồng cựu chiến binh và nhân dân đã đóng góp hơn 4 tỷ đồng để mở rộng khuôn viên lên 1.000 m² vào năm 2020.

Về mặt học thuật, các số liệu này có thể được trực quan hóa thông qua bảng ma trận phân loại hiện trạng kỹ thuật của 38 di tích và biểu đồ so sánh cơ cấu phân bổ vốn bảo tồn giữa ngân sách nhà nước (chiếm khoảng 30%) và nguồn lực huy động xã hội hóa (chiếm khoảng 70% ở các công trình tâm linh, tưởng niệm). Kết quả này tương đồng với các nghiên cứu quản lý di sản tại các vùng nông thôn Bắc Bộ và Trung Bộ, khẳng định rằng mô hình quản lý dựa vào cộng đồng là chìa khóa duy nhất để tháo gỡ điểm nghẽn tài chính cho các huyện nghèo.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa tại huyện Nông Sơn, luận văn đưa ra 5 giải pháp trọng tâm:

  1. Hoàn thiện quy hoạch khoanh vùng và cấp quyền sử dụng đất di tích: Ủy ban nhân dân huyện Nông Sơn chỉ đạo Phòng Tài nguyên và Môi trường phối hợp với Phòng Văn hóa - Thông tin hoàn thành 100% việc đo đạc, cắm mốc chỉ giới và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho toàn bộ 12 di tích cấp tỉnh và 26 di tích kiểm kê trước năm 2024.

  2. Kiện toàn tổ chức bộ máy và chuẩn hóa năng lực cán bộ quản lý: Ủy ban nhân dân huyện ban hành quy chế mẫu cho 07 ban quản lý di tích cấp xã và các tiểu ban thôn làng; tổ chức tập huấn chuyên môn định kỳ hàng năm cho 100% cán bộ văn hóa xã và người trông coi di tích; bổ sung ít nhất 01 biên chế chuyên trách di sản tại Phòng Văn hóa - Thông tin trong giai đoạn 2022 - 2025.

  3. Thiết lập cơ chế đa dạng hóa và minh bạch nguồn lực xã hội hóa: Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân huyện xây dựng đề án khuyến khích xã hội hóa, nâng tỷ trọng đóng góp của doanh nghiệp và nhân dân lên tối thiểu 45% tổng kinh phí tu bổ di tích; ban hành quy chế công khai 100% tiền công đức và tài trợ tại các điểm di tích lớn như Dinh Bà Thu Bồn.

  4. Phát triển sản phẩm du lịch di sản bền vững gắn với văn hóa sông Thu Bồn: Phòng Văn hóa - Thông tin chủ trì xây dựng 02 tour du lịch văn hóa - sinh thái kết nối Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia Lễ hội Bà Thu Bồn (công nhận năm 2020), danh thắng Hòn Kẽm Đá Dừng, Căn cứ Tân Tỉnh và làng du lịch sinh thái Đại Bình; mục tiêu nâng lượng khách tham quan tăng trưởng 15% mỗi năm từ năm 2023.

  5. Tăng cường thanh tra, kiểm tra và bảo vệ an toàn hiện vật: Đoàn kiểm tra liên ngành của huyện tổ chức thanh tra tối thiểu 02 đợt mỗi năm tại các di tích, lập hồ sơ số hóa toàn bộ cổ vật, di vật tại các di chỉ Sa Huỳnh và đình chùa nhằm chấm dứt tình trạng xâm hại cảnh quan và mất cắp cổ vật.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và khung giải pháp của luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa phương: Lãnh đạo Ủy ban nhân dân cấp huyện, Phòng Văn hóa - Thông tin và Ủy ban nhân dân cấp xã tại khu vực miền núi, trung du có thể sử dụng các quy chế quản lý mẫu và phương thức phân cấp quản lý di tích cơ sở để áp dụng trực tiếp vào địa bàn quản lý.
  • Các nhà nghiên cứu lịch sử, văn hóa và khảo cổ học: Cung cấp nguồn tư liệu thực địa có giá trị về 02 di chỉ khảo cổ Sa Huỳnh (đình Trung Lộc và Phước Hội) cùng hệ thống cứ liệu về căn cứ kháng chiến phong trào Nghĩa hội Quảng Nam thời kỳ Cần Vương (1885 - 1887).
  • Doanh nghiệp lữ hành và chuyên gia phát triển du lịch: Là cơ sở dữ liệu định hướng quan trọng để thiết kế các tour du lịch di sản, du lịch trải nghiệm sinh thái dọc lưu vực sông Thu Bồn kết hợp với Lễ hội Bà Thu Bồn và danh thắng Hòn Kẽm Đá Dừng.
  • Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Quản lý Văn hóa, Di sản học: Đóng vai trò là tài liệu tham khảo học thuật chuẩn mực về phương pháp đánh giá thực trạng quản lý di tích cấp huyện và kỹ năng xây dựng đề án bảo tồn di sản trong bối cảnh chuyển đổi kinh tế.

Câu hỏi thường gặp

  1. Huyện Nông Sơn hiện có bao nhiêu di tích đã được xếp hạng và kiểm kê? Tính đến tháng 12 năm 2019, toàn huyện Nông Sơn có tổng cộng 38 di tích, bao gồm 12 di tích đã được Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam ra quyết định xếp hạng cấp tỉnh và 26 di tích đã được đưa vào danh mục kiểm kê bảo vệ của ngành văn hóa.

  2. Cơ cấu loại hình di tích tại Nông Sơn phân bố như thế nào? Cơ cấu di tích của huyện gồm 84% di tích kiến trúc nghệ thuật và danh lam thắng cảnh, 11% di tích lịch sử cách mạng - lưu niệm danh nhân và 5% di tích khảo cổ học với hai di chỉ nổi bật thuộc văn hóa Sa Huỳnh có niên đại cách ngày nay từ 2.000 đến 2.500 năm.

  3. Ngân sách nhà nước đầu tư cho công tác tu bổ di tích tại Nông Sơn là bao nhiêu? Hàng năm, ngân sách nhà nước thông qua các chương trình mục tiêu quốc gia và ngân sách tỉnh cấp cho công tác bảo vệ, tu bổ, chống xuống cấp di tích tại huyện Nông Sơn dao động trong khoảng từ 1 tỷ đến 1,5 tỷ đồng dựa trên đề xuất của Phòng Văn hóa - Thông tin.

  4. Mô hình bộ máy quản lý di tích cấp cơ sở tại huyện Nông Sơn được tổ chức ra sao? Huyện Nông Sơn đã thành lập 07 ban quản lý di tích cấp xã do Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã làm Trưởng ban, cùng các tiểu ban quản lý di tích thôn/làng gồm 3 đến 5 thành viên đại diện cho hội người cao tuổi, trưởng thôn và người trực tiếp trông coi di tích.

  5. Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia nào tại Nông Sơn đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch vinh danh? Ngày 30 tháng 9 năm 2020, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ban hành Quyết định chính thức đưa Lễ hội Bà Thu Bồn (gắn liền với Khu di tích Dinh Bà Thu Bồn tại xã Quế Trung, huyện Nông Sơn và xã Duy Tân, huyện Duy Xuyên) vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở dữ liệu về 38 di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh trên địa bàn huyện Nông Sơn.
  • Đánh giá khách quan hiệu quả tu bổ của 19 lượt di tích giai đoạn 2001 - 2018 với nguồn ngân sách nhà nước 1 - 1,5 tỷ đồng mỗi năm.
  • Nhận diện chính xác điểm nghẽn về nhân lực mỏng khi Phòng Văn hóa - Thông tin huyện chỉ có 04 cán bộ phụ trách toàn diện các lĩnh vực.
  • Xác lập 5 nhóm giải pháp quản trị đồng bộ bao gồm quy hoạch đất đai, kiện toàn nhân sự, xã hội hóa nguồn vốn, liên kết du lịch và thanh tra di sản.
  • Đóng góp luận cứ khoa học thực tiễn vững chắc phục vụ việc thực hiện Đề án bảo tồn di sản văn hóa huyện Nông Sơn giai đoạn 2021 - 2025.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là đã làm sáng tỏ mối quan hệ biện chứng giữa thể chế quản lý nhà nước cấp huyện với năng lực tự quản di sản của cộng đồng địa phương vùng thượng lưu sông Thu Bồn. Về lộ trình tiếp theo, chính quyền địa phương cần khẩn trương số hóa hồ sơ địa chính và triển khai liên kết tour tuyến di sản trong giai đoạn 2022 - 2024. Các nhà quản lý văn hóa và nhà khoa học hãy tham khảo, ứng dụng khung phân tích của luận văn để tối ưu hóa công tác bảo tồn di sản tại các địa bàn có điều kiện tương đồng.