Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý di tích, tổng quan về hệ thống DTLSVH trên địa bàn huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam. Chương 2: Thực trạng quản lý DTLSVH trên địa bàn huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam. Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý DTLSVH trên địa bàn huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DI TÍCH, TỔNG QUAN VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NÔNG SƠN, TỈNH QUẢNG NAM 1.
Cơ sở lý luận về quản lý di tích 1. Một số khái niệm: Di sản văn hóa, QLNN về di sản văn hóa, DTLSVH, Quản lý DTLSVH Theo Luật Di sản văn hóa năm 2001 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 có viết: “Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [40, tr. Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa có liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác. Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia [40, tr.
UNESCO chia di sản văn hóa thành hai loại: DSVH vật thể và DSVH phi vật thể. DSVH vật thể bao gồm các di tích, công trình lịch sử, đền đài, cung điện, sách cổ, mẫu vật ở bảo tàng, công cụ sản xuất ở từng giai đoạn lịch sử, các di tích danh thắng. DSVH phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí 9 quyết và nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dược cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác [1, tr. Như vậy, di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là thành quả của quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước của nhân dân ta qua hàng nghìn năm lịch sử; phản ánh tiến trình phát triển, thành tựu và khả năng của chính dân tộc đó; phản ánh những đặc trưng cơ bản để làm rõ sự khác nhau giữa dân tộc này với dân tộc khác, giữa quốc gia này với quốc gia khác.
Trong những giai đoạn lịch sử khác nhau, vai trò của di sản văn hóa có những đóng góp nhất định vào công cuộc bảo vệ đất nước; là những bài học lịch sử hun đúc nên lòng yêu nước, ý chí quật cường chống giặc ngoại xâm của toàn dân tộc. Trong các cuộc chiến đấu đó, những người ra trận hay những người ở hậu phương đều mang trong mình chiều sâu văn hiến mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Theo Luật Di sản Văn hóa được sửa đổi, bổ sung năm 2009: "Di tích lịch sử-văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học" [40, tr. Điểm 1, Điều 28, Chương IV Luật DSVH quy định để trở thành DTLSVH phải có các tiêu chí sau: a.
Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá trình dựng nước và giữ nước; b. Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân đất nước; c. Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của các thời kỳ cách mạng kháng chiến; d. Địa điểm có giá trị tiêu biểu về khảo cổ; 10 đ.
Quần thể các công trình kiến trúc hoặc công trình kiến trúc đơn lẻ có giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử [40, tr. Nghị định 98/2010/NĐ-CP ngày 21/9/2010 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật DSVH có nêu tại Điều 11: “Di tích là các di tích lịch sử (di tích lưu niệm sự kiện, di tích lưu niệm danh nhân), di tích kiến trúc nghệ thuật, di tích khảo cổ, danh lam thắng cảnh”. Nội dung Nghị định này cũng nêu rõ 04 loại hình di tích: di tích lịch sử, di tích kiến trúc nghệ thuật, di tích khảo cổ, danh lam thắng cảnh. Dù có nhiều cách định nghĩa khác nhau nhưng các khái niệm đó đều được xác định đặc điểm chung: DTLSVH là những không gian vật chất cụ thể, khách quan của quá khứ còn tồn tại đến ngày nay, trong đó chứa đựng các giá trị điển hình của lịch sử, do tập thể hoặc cá nhân sáng tạo ra trong lịch sử.
Từ những nội dung nêu trên, có thể thấy, quan niệm DTLSVH chứa đựng hai yếu tố chính [12]: Một là: Di tích là một loại di sản văn hóa vật thể còn lại của lịch sử, gắn với một địa điểm một không gian nhất định, có gắn kết với một cộng đồng văn hóa nhất định. Nghĩa là di tích tồn tại ở nơi có liên quan đến việc sinh ra, tồn tại (hoặc có một hay nhiều hoạt động), hoặc cũng có thể là nơi một nhân vật nào đó qua đời sau đó được nhân dân tưởng nhớ, lập nên chốn thờ phụng; hoặc có thể chỉ là nơi chôn cất một nhân vật tiêu biểu nào đó, người có ảnh hưởng lớn đến đời sống nhân dân, được nhân dân biết ơn, tưởng nhớ; thậm chí cũng có thể đó chỉ là những nơi có cảnh quan thiên nhiên đẹp, mà một nhân vật tiêu biểu nào đó trong lịch sử đã từng nghỉ chân, sau này được nhân dân biết ơn, tạo dựng lại những sinh hoạt đó tạo nên một nét đẹp văn hóa, một phong tục, hoặc có thể là một lễ hội ở chính địa điểm, không gian đó. 11 Hai là: DTLSVH được hình thành và tồn tại luôn gắn với không gian nhất định và có tiến trình thời gian; DTLSVH được con người sáng tạo ra và được các thế hệ con người bồi đắp, lưu truyền để tạo thành sản phẩm mang kết tinh văn hóa của nhiều thế hệ trong tiến trình lịch sử xã hội. Mỗi di tích đều tích hợp nhiều tầng, lớp văn hóa mang giá trị nghiên cứu cho dù di tích đó được kiến tạo bằng chất liệu gì đi chăng nữa, được đan xen những giá trị văn hóa, kiến trúc, nghệ thuật qua nhiều thời kỳ lịch sử khác nhau.
Như vậy cần khẳng định: DTLSVH là sản phẩm vật thể do con người sáng tạo ra; mỗi DTLSVH tiềm ẩn nhiều giá trị và thông tin của nhiều lĩnh vực khoa học. Mỗi DTLSVH có những thông tin sống động mà các nguồn sử liệu không thể ghi chép đầy đủ được. Khái niệm quản lý Quản lý là hoạt động nhằm tác động có tổ chức của một chủ thể vào một đối tượng nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội và các hành vi con người, nhằm duy trì sự ổn định và sự phát triển của đối tượng theo những mục đích nhất định. Đây có thể là khái niệm có ý nghĩa thông thường và phổ biến nhất về quản lý [28, tr.
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, “Quản lý” là việc chăm nom và điều khiển các hoạt động trong một tổ chức ban quản lý nhân sự; trông nom, giữ gìn và sắp xếp quản lý thư viện; quản lý sổ sách…” [30, tr. Trong cuốn Tư bản, C. Mác cho rằng: “Quản lý là một chức năng đặc biệt nảy sinh từ bản chất xã hội của quá trình lao động” [20]. Như vậy, theo cách hiểu chung nhất thì quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý.
Việc tác động theo cách nào còn tùy thuộc vào các góc độ khoa học khác nhau, các lĩnh vực khác nhau cũng như cách tiếp cận của người nghiên cứu. 12 QLNN là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người. QLNN là quá trình nắm và điều hành bằng pháp luật, chính sách, kế hoạch và các công cụ khác của Nhà nước trong mọi lĩnh vực mà hoạt động xã hội có liên quan. do hệ thống các cơ quan nhà nước (lập pháp, hành pháp, tư pháp) từ trung ương đến cơ sở tiến hành theo chức năng, nhiệm vụ, phạm vi, quyền hạn của mỗi cơ quan.
Quản lý DSVH là “một quá trình theo dõi, định hướng và điều tiết quá trình tồn tại và phát triển của các DSVH trên một địa bàn cụ thể nhằm bảo tồn và phát huy tốt nhất giá trị của chúng; đem lại lợi ích to lớn, nhiều mặt, lâu dài cho cộng đồng dân cư, chủ nhân của các DSVH đó” [37]. Quản lý DTLSVH là một hoạt động nằm trong công tác quản lý DSVH. Theo quan điểm khoa học phổ biến hiện nay, quản lý DTSVH không chỉ đơn thuần là quản lý những giá trị vật thể mà quan trọng hơn là người làm công tác quản lý phải biết cách “đánh thức” những giá trị văn hóa phi vật thể để có tác động tích cực đến đời sống cộng đồng. Quản lý DTLSVH cũng chính là sự định hướng, tạo điều kiện tổ chức, điều hành việc bảo vệ, gìn giữ các DTLSVH, làm cho các giá trị của di tích được phát huy theo chiều hướng tích cực.
Các DTLSVH cần được tôn trọng và bảo vệ vì đây là tài sản vô giá, là tài nguyên kinh tế du lịch không bao giờ cạn kiệt nếu chúng ta biết khai thác một cách khoa học. Việc bảo vệ, khai thác, sử dụng có hiệu quả những di tích có ý nghĩa quan trọng trong việc giáo dục truyền thống, phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học, tham quan du lịch, đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ và văn hóa của nhân dân.