I. Tổng quan quản lý dạy học môn Tiếng Việt tiểu học huyện Ba Chẽ
Huyện Ba Chẽ là một huyện miền núi thuộc tỉnh Quảng Ninh. Địa bàn huyện có địa hình hiểm trở, giao thông đi lại còn nhiều cách trở. Tỷ lệ học sinh là con em đồng bào dân tộc thiểu số chiếm đa số tại các trường tiểu học. Do đó, việc dạy và học môn Tiếng Việt giữ vai trò nền tảng đặc biệt quan trọng. Môn Tiếng Việt giúp học sinh hình thành kỹ năng giao tiếp cơ bản. Môn học này tạo tiền đề vững chắc để tiếp thu các môn học khác. Quản lý dạy học môn Tiếng Việt tiểu học huyện Ba Chẽ là nhiệm vụ trọng tâm của các nhà trường. Hoạt động quản lý bao gồm việc xây dựng kế hoạch giáo dục bám sát thực tiễn địa phương. Cán bộ quản lý phải tổ chức bộ máy chuyên môn linh hoạt. Việc chỉ đạo phương pháp giảng dạy cần phù hợp với đối tượng học sinh vùng cao. Đồng thời, nhà trường cần theo dõi, kiểm tra và đánh giá thường xuyên tiến độ giảng dạy. Thực hiện tốt công tác quản lý sẽ đảm bảo đúng mục tiêu Chương trình giáo dục phổ thông 2018. Công tác này giúp khắc phục rào cản bất đồng ngôn ngữ của học sinh dân tộc thiểu số. Nhờ vậy, chất lượng giáo dục tiểu học tại huyện Ba Chẽ ngày càng được củng cố và nâng cao toàn diện.
1.1. Mục tiêu và tầm quan trọng của môn Tiếng Việt tiểu học
Môn Tiếng Việt ở cấp tiểu học nhằm hình thành và phát triển các kỹ năng ngôn ngữ then chốt cho học sinh. Các kỹ năng đó bao gồm nghe, nói, đọc và viết. Môn học bồi dưỡng tình yêu tiếng mẹ đẻ và xây dựng nhân cách cho các em. Đối với học sinh tiểu học huyện Ba Chẽ, môn Tiếng Việt là chìa khóa mở ra cánh cửa tri thức. Phần lớn học sinh dùng tiếng mẹ đẻ của đồng bào khi ở nhà. Do vậy, năng lực tiếng Việt của các em còn hạn chế. Nắm vững tiếng Việt giúp các em học tập tốt các môn học khác. Điều này còn giúp các em hòa nhập xã hội dễ dàng hơn. Cán bộ quản lý cần nhận thức sâu sắc mục tiêu này để chỉ đạo hoạt động dạy học hiệu quả.
1.2. Yêu cầu đổi mới từ Chương trình giáo dục phổ thông 2018
Chương trình giáo dục phổ thông 2018 đặt ra những yêu cầu mới đối với môn Tiếng Việt cấp tiểu học. Chương trình chuyển từ truyền thụ kiến thức sang hình thành và phát triển toàn diện phẩm chất, năng lực người học. Môn Tiếng Việt yêu cầu học sinh rèn luyện kỹ thuật đọc kết hợp với đọc hiểu văn bản sâu sắc. Học sinh phải viết đúng chính tả, ngữ pháp và tạo lập được các kiểu văn bản thông dụng. Chương trình cũng đòi hỏi giáo viên thay đổi phương pháp giảng dạy theo hướng tích cực hóa người học. Đối với nhà trường tại Ba Chẽ, việc triển khai đòi hỏi cán bộ quản lý phải linh hoạt trong bố trí kế hoạch dạy học. Các trường cần điều chỉnh chương trình cho sát với khả năng tiếp nhận của học sinh vùng cao.
II. Thực trạng quản lý dạy học môn Tiếng Việt tiểu học huyện Ba Chẽ
Thực trạng công tác quản lý dạy học môn Tiếng Việt tại các trường tiểu học huyện Ba Chẽ ghi nhận nhiều nỗ lực song vẫn tồn tại nhiều khó khăn. Cơ cấu mạng lưới trường lớp tại Ba Chẽ có đặc thù phân tán. Địa bàn có nhiều điểm trường lẻ xa xôi. Quy mô học sinh trên mỗi lớp còn thấp, bình quân từ 16 đến 18 học sinh mỗi lớp. Nhiều điểm trường lẻ vẫn phải duy trì mô hình lớp ghép nhiều trình độ. Tình trạng này gây cản trở lớn đến việc bố trí thời khóa biểu và phân công giáo viên. Ngoài ra, nguồn nhân lực giáo dục tại huyện vẫn thiếu về số lượng để thực hiện dạy học hai buổi mỗi ngày. Đội ngũ giáo viên còn thiếu về cơ cấu chuyên môn, nhất là giáo viên bộ môn đặc thù. Trình độ ứng dụng công nghệ thông tin và đổi mới phương pháp giảng dạy môn Tiếng Việt chưa đồng đều giữa các nhà trường. Công tác quản lý hồ sơ chuyên môn và kế hoạch dạy học ở một số đơn vị còn mang tính hình thức. Việc kiểm tra, hỗ trợ chuyên môn cho giáo viên tại điểm trường lẻ gặp trở ngại do giao thông cách trở. Những rào cản này ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng lĩnh hội môn Tiếng Việt của học sinh.
2.1. Thách thức từ mạng lưới trường lớp và lớp ghép
Huyện Ba Chẽ có mật độ dân cư thưa thớt và phân bố rải rác trên các sườn núi cao. Điều kiện này dẫn tới tình trạng có nhiều điểm trường lẻ tại các thôn, bản. Sĩ số học sinh mỗi lớp rất thấp, chỉ đạt bình quân 16 đến 18 em một lớp. Để bảo đảm quyền được học tập cho trẻ em vùng khó, các trường bắt buộc phải tổ chức các lớp ghép. Trong một lớp ghép, một giáo viên phải dạy cùng lúc hai đến ba trình độ học vấn khác nhau. Việc dạy môn Tiếng Việt trong mô hình lớp ghép đối mặt với áp lực rất nặng nề. Thời gian giáo viên tương tác trực tiếp với từng nhóm học sinh bị chia nhỏ. Cán bộ quản lý gặp nhiều khó khăn trong việc điều phối nhân sự và bảo đảm đồng bộ cơ sở vật chất giữa điểm chính và điểm trường lẻ.
2.2. Hạn chế về đội ngũ giáo viên và rào cản ngôn ngữ
Tỷ lệ giáo viên trên lớp tại huyện Ba Chẽ vẫn chưa đáp ứng trọn vẹn yêu cầu tổ chức dạy học hai buổi mỗi ngày. Cơ cấu giáo viên còn thiếu hụt, tạo thêm gánh nặng cho đội ngũ đứng lớp môn Tiếng Việt. Bên cạnh đó, tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn trình độ đại học đang trong quá trình hoàn thiện lộ trình nâng chuẩn. Rào cản lớn nhất nằm ở khả năng tiếp thu ngôn ngữ của học sinh địa phương. Đa số học sinh tiểu học là người dân tộc Dao, Tày, Sán Chỉ. Các em ít có cơ hội giao tiếp bằng tiếng Việt ngoài giờ lên lớp. Vốn từ vựng tiếng Việt của các em rất nghèo nàn và phát âm thường bị ảnh hưởng tiếng mẹ đẻ. Một bộ phận giáo viên chưa nắm vững tiếng dân tộc để hỗ trợ học sinh học Tiếng Việt kịp thời.
III. Giải pháp quản lý dạy học môn Tiếng Việt tiểu học huyện Ba Chẽ
Để nâng cao chất lượng giáo dục, công tác quản lý dạy học môn Tiếng Việt tại huyện Ba Chẽ cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp thực tiễn. Trước hết, cán bộ quản lý phải chủ động xây dựng kế hoạch giáo dục linh hoạt cho từng khối lớp. Kế hoạch này cần tinh giản kiến thức hàn lâm và tăng cường rèn kỹ năng thực hành ngôn ngữ. Nhà trường cần đẩy mạnh sinh hoạt chuyên môn theo cụm trường và tổ chuyên môn dựa trên nghiên cứu bài học. Phương thức này giúp giáo viên chia sẻ kinh nghiệm giảng dạy môn Tiếng Việt tại các điểm trường lẻ và lớp ghép. Bên cạnh đó, hiệu trưởng cần tích cực tham mưu với cấp ủy, chính quyền địa phương để bổ sung biên chế giáo viên. Các trường cần ưu tiên bồi dưỡng năng lực dạy học tiếng Việt như ngôn ngữ thứ hai cho giáo viên. Nhà trường cũng phải huy động nguồn lực trang bị thêm thiết bị dạy học hiện đại và học liệu trực quan. Việc ứng dụng công nghệ thông tin giúp bài giảng môn Tiếng Việt sinh động hơn đối với học sinh miền núi. Cuối cùng, công tác kiểm tra, đánh giá học sinh cần tiến hành thực chất, lấy sự tiến bộ của học sinh làm thước đo chính xác nhất.
3.1. Đổi mới kế hoạch dạy học và phương pháp giảng dạy
Cán bộ quản lý cần chỉ đạo tổ chuyên môn thiết kế kế hoạch giáo dục môn Tiếng Việt phù hợp đối tượng học sinh vùng dân tộc thiểu số. Kế hoạch giảng dạy cần phân bổ thêm thời lượng cho hoạt động luyện nghe, luyện nói và đọc hiểu. Giáo viên cần vận dụng các phương pháp dạy học trực quan và trò chơi học tập. Việc dùng tranh ảnh, vật mẫu và video minh họa giúp học sinh ghi nhớ từ ngữ nhanh hơn. Trong các lớp ghép, giáo viên cần tổ chức hoạt động nhóm tự quản hiệu quả. Giáo viên giao nhiệm vụ cụ thể cho nhóm học sinh tự học trong lúc hướng dẫn nhóm còn lại. Nhà trường cần khuyến khích giáo viên xây dựng môi trường giao tiếp tiếng Việt tích cực ngay trong lớp học và khuôn viên sân trường.
3.2. Bồi dưỡng đội ngũ và tăng cường cơ sở vật chất
Công tác bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên giữ vai trò quyết định tới chất lượng dạy học môn Tiếng Việt. Nhà trường cần tổ chức các khóa tập huấn về kỹ thuật dạy học môn Tiếng Việt theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018. Nội dung bồi dưỡng cần chú trọng phương pháp tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số. Cán bộ quản lý cần khuyến khích giáo viên học thêm tiếng dân tộc của địa phương. Việc này giúp giáo viên thấu hiểu tâm lý và giải thích bài học thuận lợi hơn. Song song với đó, các trường tiểu học tại huyện Ba Chẽ cần đầu tư thư viện thân thiện, góc đọc sách phong phú. Trang bị đầy đủ máy chiếu, bảng tương tác và tài liệu tham khảo sẽ hỗ trợ đắc lực cho hoạt động dạy học.
IV. Hiệu quả quản lý dạy học môn Tiếng Việt tiểu học huyện Ba Chẽ
Quản lý hiệu quả hoạt động dạy học môn Tiếng Việt đem lại bước chuyển biến rõ nét cho các trường tiểu học huyện Ba Chẽ. Học sinh hình thành thói quen giao tiếp tiếng Việt tự tin hơn trong sinh hoạt và học tập hàng ngày. Năng lực đọc hiểu và kỹ năng viết văn bản của các em được nâng lên rõ rệt. Khoảng cách về chất lượng học tập giữa điểm trường chính và các điểm trường lẻ từng bước được thu hẹp. Đội ngũ giáo viên tiểu học tại địa phương ngày càng vững vàng về nghiệp vụ sư phạm. Giáo viên đã biết chủ động điều chỉnh ngữ liệu và phương pháp dạy học cho từng tiết dạy môn Tiếng Việt. Sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng xã hội tạo nên môi trường hỗ trợ giáo dục vững mạnh. Các biện pháp quản lý khoa học không chỉ giúp hoàn thành tốt Chương trình giáo dục phổ thông 2018 mà còn đặt nền móng cho sự phát triển giáo dục bền vững của huyện miền núi Ba Chẽ. Đây là bài học kinh nghiệm quý giá có thể nhân rộng sang các địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội tương đồng.
4.1. Kết quả đạt được trong việc nâng cao năng lực ngôn ngữ
Nhờ sự chỉ đạo quyết liệt từ các nhà trường, năng lực ngôn ngữ của học sinh tiểu học tại Ba Chẽ có sự tiến bộ vượt bậc. Các em học sinh lớp đầu cấp đã nhanh chóng đạt chuẩn về kỹ thuật đọc và tốc độ đọc. Tình trạng phát âm sai thanh điệu và viết sai chính tả giảm thiểu đáng kể qua từng năm học. Học sinh các khối lớp trên rèn luyện được kỹ năng đọc hiểu văn bản, biết tóm tắt nội dung chính và rút ra bài học đạo đức. Khả năng viết đoạn văn, bài văn miêu tả và kể chuyện của học sinh trở nên mạch lạc, giàu cảm xúc hơn. Tinh thần chủ động, tự tin trong giao tiếp tiếng Việt của học sinh dân tộc thiểu số tại trường học được củng cố rõ rệt.
4.2. Bài học kinh nghiệm và kiến nghị phát triển bền vững
Thực tiễn quản lý dạy học môn Tiếng Việt tại huyện Ba Chẽ rút ra nhiều bài học quý giá cho giáo dục vùng cao. Vai trò dẫn dắt, kiểm tra sâu sát của người hiệu trưởng là yếu tố then chốt bảo đảm hiệu quả dạy học. Kế hoạch dạy học phải luôn gắn liền với điều kiện thực tế của học sinh địa phương. Nhà trường cần duy trì tốt mối liên kết với cha mẹ học sinh để cùng rèn luyện tiếng Việt tại gia đình. Bên cạnh đó, Phòng Giáo dục và Đào tạo cùng chính quyền huyện Ba Chẽ cần có chính sách tuyển dụng thêm giáo viên đủ cơ số. Địa phương cần ưu tiên đầu tư xây dựng phòng học kiên cố, xóa bỏ các điểm trường lẻ không đạt chuẩn để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.