MỞ ĐẦU 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Trong xu thế toàn cầu hoá, với sự phát triển nhƣ vũ bão của khoa học kỹ thuật, sự xuất hiện của nền kinh tế trí thức, xã hội thông tin, hình thành nền văn minh trí tuệ và tiến tới xây dựng một “xã hội học tập” đã tạo ra những cơ hội lớn cần nắm bắt để đất nƣớc ta sớm thực hiện CNH, HĐH, tuy nhiên bên cạnh đó là những thách thức cần phải vƣợt qua. Đại hội Đảng lần thứ X đã nhận định “Nƣớc ta đang đứng trƣớc nhiều thách thức lớn, đan xen nhau, tác động tổng hợp và diễn biến phức tạp, không thể coi thƣờng bất cứ thách thức nào. Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nƣớc trong khu vực và trên toàn thế giới vẫn tồn tại”.
Do đó, cần “Tranh thủ cơ hội thuận lợi do bối cảnh quốc tế tạo ra và tiềm năng lợi thế của nƣớc ta để rút ngắn quá trình CNH, HĐH của đất nƣớc theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa gắn với phát triển kinh tế tri thức là yếu tố quan trọng của nền kinh tế và CNH, HĐH. Phát triển mạnh các ngành và sản phẩm kinh tế có giá trị cao dựa nhiều vào tri thức, kết hợp việc sử dụng nguồn vốn tri thức của con ngƣời Việt Nam với tri thức mới nhất của nhân loại” [21, tr. Nhƣ vậy, để đẩy mạnh CNH, HĐH đất nƣớc, Đảng và Nhà nƣớc ta đặc biệt coi trọng nhân tố tri thức của con ngƣời. Coi phát triển con ngƣời vừa là động lực, vừa là mục tiêu của sự phát triển KT - XH.
Vì vậy, trong công cuộc đổi mới đất nƣớc, Đảng ta đã khẳng định Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của nhà nƣớc và của toàn dân. Với mục tiêu GD&ĐT con ngƣời Việt Nam phát triển toàn diện có đạo đức, có tri thức, sức khoẻ thẩm mỹ nghề nghiệp. Để đạt đƣợc mục tiêu của GD&ĐT cần thực hiện Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 10 đồng thời hai con đƣờng, đó là giáo dục chính quy (GDCQ) và giáo dục thƣờng xuyên (GDTX) [21, tr. Hiện nay, GDTX là xu thế phát triển tất yếu trên thế giới, có vị trí chiến lƣợc và vai trò quan trọng không thể thiếu đƣợc trong hệ thống giáo dục quốc dân của các quốc gia.
Ở Việt Nam, GDTX là một bộ phận quan trọng bên cạnh GDCQ trong hệ thống Giáo dục quốc dân. GDTX đã góp phần quan trọng trong việc nâng cao dân trí cho ngƣời dân, đào tạo nguồn nhân lực cho xã hội, đáp ứng nhu cầu học tập cho mọi ngƣời. Ngoài ra, GDTX còn có một vai trò đặc biệt quan trọng, đó là góp phần xây dựng một xã hội học tập tạo cơ hội điều kiện thuận lợi cho mọi lứa tuổi, mọi trình độ học tập thƣờng xuyên, học tập liên tục và học tập suốt đời. Quảng Ninh là một tỉnh biên giới, trong năm gần đây đã có những bƣớc đi lên vững chắc, toàn diện.
Đặc biệt, GDTX Quảng Ninh nói chung và Trung tâm Hƣớng nghiệp và Giáo dục thƣờng xuyên huyện Cô Tô (TTHN&GDTX) nói riêng đã góp phần quan trọng trong việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dƣỡng nhân tài tạo đà cho sự phát triển KT - XH của tỉnh nhà. Cụ thể Trung tâm HN&GDTX huyện Cô Tô đã góp phần tích cực trong việc tổ chức dạy học đề nâng cao trình độ học vấn cho ngƣời dân trên địa bàn không có điều kiện học tập ở cơ sở GDCQ, chuẩn hoá trình độ cho cán bộ làm việc ở các cơ quan, xí nghiệp, lực lƣơng vũ trang, góp phần đẩy nhanh tiến độ phổ cập bậc trung học trên địa bàn. Là đơn vị mới đƣợc thành lập, còn non trẻ, lại nằm trên tuyến đảo xa xôi nên Trung tâm vẫn còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế, bất cập đó là: Chƣa đa dạng hoá các loại hình đào tạo nhằm đáp ứng nhu cầu của ngƣời học; CSVC - TBDH, điều kiện học tập chƣa đáp ứng nhu cầu đổi mới chƣơng trình GDTX hiện nay; Giáo viên chậm đổi mới phƣơng pháp dạy học, ý thức học tập của học Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 11 viên chƣa cao đặc biệt là tính tự giác trong học tập. Công tác quản lý việc thực hiện nề nếp dạy học của giáo viên, học tập của học viên chƣa có chiều sâu, đôi khi còn lỏng lẻo.
Do đó chất lƣợng dạy học của Trung tâm chƣa đáp ứng đƣợc nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực có chất lƣợng cao cho tỉnh nhà. Vì vậy, việc tìm kiếm, đề xuất các biện pháp quản lý dạy học nhằm nâng cao chất lƣợng dạy học tại Trung tâm HN&GDTX huyện Cô Tô là một thực tế cần đƣợc giải quyết. Từ những lý do nêu trên tác giả đã chọn nghiên cứu đề tài: “Quản lý dạy học tại Trung tâm Hướng nghiệp và Giáo dục thường xuyên huyện Cô Tô - Quảng Ninh”. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU Đề xuất các biện pháp quản lý dạy học phù hợp nhằm góp phần nâng cao chất lƣợng dạy học tại Trung tâm Hƣớng nghiệp và Giáo dục thƣờng xuyên huyện Cô Tô - Quảng Ninh.
KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƢỢNG NGHIỆN CỨU 3. Khách thể Quản lý dạy học tại Trung tâm HN&GDTX cấp huyện. Đối tƣợng Quá trình quản lý dạy học tại Trung tâm HN&GDTX huyện Cô Tô - Quảng Ninh. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC Việc quản lý dạy học ở Trung tâm HN&GDTX huyện Cô Tô - Quảng Ninh còn nhiều điều bất cập và hạn chế.
Nếu đề xuất đƣợc các biện pháp quản lý dạy học trên cơ sở nâng cao nhận thức, mục đích đổi mới phƣơng pháp dạy học nhƣ: Bồi dƣỡng cho đội ngũ giáo viên về phƣơng pháp dạy học, rèn luyện cho học sinh về kỹ năng học tập. Chuẩn hoá, tăng cƣờng khai thác thiết bị dạy học và cải tiến công tác kiểm tra đánh giá thì sẽ góp phần nâng cao đƣợc chất lƣợng dạy học tại Trung tâm HN&GDTX huyện Cô Tô - Quảng Ninh. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 5.
Hệ thông hoá một số vấn đề lý luận dạy học, quản lý dạy học (QLDH) ở Trung tâm HN&GDTX cấp huyện. Khảo sát thực trạng dạy học và quản lý dạy học tại Trung tâm HN&GDTX huyện Cô Tô - Quảng Ninh. Đề xuất các biện pháp quản lý dạy học tại Trung tâm HN&GDTX huyện Cô Tô - Quảng Ninh. GIỚI HẠN, PHẠM VI NGHIÊN CỨU Đề tài tập trung nghiên cứu công tác quản lý dạy học ở các lớp hệ Bổ túc văn hóa cấp THPT ở Trung tâm HN&GDTX huyện Cô Tô - Quảng Ninh.
Các hệ đào tạo khác đề tài không có điều kiện nghiên cứu. CÁC PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 7. Phƣơng pháp nghiên cứu lí luận Phƣơng pháp nghiên cứu các tài liệu lý luận về quản lý - quản lý giáo dục - quản lý dạy học - quản lý Trung tâm GDTX, tổng hợp, hệ thống hoá các văn bản chủ trƣơng đƣờng lối, Nghị quyết về chiến lƣợc phát triển giáo dục và đào tạo của Đảng và Nhà nƣớc, của ngành Giáo dục và Đào tạo. Phƣơng pháp điều tra Bằng bảng hỏi để nhận định đánh giá rõ mặt mạnh, mặt yếu và tìm ra nguyên nhân của hạn chế yếu kém về quản lý dạy học ở Trung tâm HN&GDTX huyện Cô Tô - Quảng Ninh.
Đồng thời kiểm chứng nhận thức của cán bộ quản lý trong và ngoài ngành GD&ĐT về mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp QLDH đƣợc đề xuất. Phƣơng pháp chuyên gia Lấy ý kiến của các nhà quản lý có kinh nghiệm để xác định tính hiệu quả và tính khả thi của các biện pháp đề xuất. Phƣơng pháp tổng kết kinh nghiệm dạy học Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 13 Trên số liệu kết quả dạy học tại trung tâm trong những năm qua, thực hiện việc phát vấn, lấy ý kiến thăm dò, tổng hợp các kinh nghiệm quản lý dạy học đem lại hiệu quả từ đó làm cơ sở để đề xuất các biện pháp quản lý. Nhóm các phƣơng pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học Tổng hợp các số liệu điều tra qua việc lấy phiếu thăm dò, tổng hợp số liệu, phân tích và xử lý số liệu từ đó có những nhận xét những điểm mạnh, điểu yếu trong việc quản lý dạy học tại trung tâm.
Qua đó làm cơ sở để đƣa ra những biện pháp mang tính hiệu quả và tính khả thi. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 14 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DẠY HỌC TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƢỜNG XUYÊN 1. VÀI NÉT LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ Quản lý và quản lý dạy học đã đƣợc đề cập đến từ lâu. Lúc đầu cơ sở lý luận về dạy học, quản lý dạy học chỉ thể hiện dƣới dạng một số ý tƣởng của những nhà triết học (đồng thời cũng là những nhà giáo dục), sau đó dần dần phát triển và hoàn thiện hơn.
Gần đây ngƣời ta mới chú ý bàn luận về hiệu quả của quản lý nói chung và quản lý dạy học nói riêng. Nhƣng hầu hết các công trình đều nghiên cứu về quản lý học ở các trƣờng phổ thông, các trƣờng Cao đẳng và đại học. Riêng quản lý dạy học ở một số cơ sở có tính đặc thù nhƣ Trung tâm GDTX còn chƣa đƣợc quan tâm nghiên cứu đầy đủ. Bƣớc vào cuối thập kỉ 60, khi khoa học và công nghệ phát triển nhanh, hầu hết các nƣớc trên thế giới đều nhận thấy hệ thống giáo dục chính quy chủ yếu chăm lo cho một số bộ phận công dân thành đạt trong một giai đoạn nhất định của cả cuộc đời với nội dung chƣơng trình chon lọc, tinh túy, kinh viện, nhiều kiến thức nhanh chóng bị lạc hậu và không đáp ứng kịp thời nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
Xu hƣớng tập trung hóa, đô thị hóa giáo dục đã làm mất cân đối nghiêm trọng về trình độ dân trí và nguồn nhân lực giữa các vùng miền, cơ cấu ngành nghề, cấp độ đào tạo; giáo dục ít có cơ hội đến những vùng khó khăn, đền với ngƣời nghèo. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 15 Đến thập kỉ 70 Edgar Faure xuất bản cuốn sách “Học để tồn tại” năm 1972 đã làm xoay chuyển nhận thức về giáo dục, đặc biệt là giáo dục ngƣời lớn và đặt trong khuôn khổ “giáo dục suốt đời” [23].